|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 03 - 2025
V/v “ Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Võ Thị Bời
2.Ông Nguyễn Văn Bạn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 895/2024/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Trần Trà M; Sinh năm: 1993; Địa chỉ: 4 C, thôn H, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Bị đơn: Ông Võ Ngọc T; Sinh năm:1994; Địa chỉ: B tổ H, thôn N, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Trần Trà M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Võ Ngọc T chung sống và đăng ký kết hôn năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã V, N. Quá trình chung sống chúng tôi thường xuyên mâu thuẫn về kinh tế. Ông T nhiều lần ấy tiền của tôi để tiêu xài cá nhân và ăn chơi khi chưa có sự đồng ý của tôi, ngoài ra không có trách nhiệm với con cái. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên nhủ, hòa giải nhưng ông T vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn kéo dài khiến tôi không còn tình cảm với ông T. Chúng tôi đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay tôi yêu cầu được ly hôn ông T.
Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung tên Võ Lê Chí T1 sinh ngày 14/01/2019. Từ khi ly thân đến nay, tôi là người trực tiếp nuôi con, ông T thỉnh thoảng ghé thăm con. Nay ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa giải quyết tài chung, về nợ chung chúng tôi không có.
Tại bản tự khai, và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn ông Võ Ngọc T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Lê Trần Trà M chung sống và đăng ký kết hôn năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã V, N. Quá trình chung sống chúng tôi phát sinh mâu thuẫn do tôi hay lấy tiền của bà M khi bà M chưa đồng ý, tôi biết việc làm của mình là sai. Nay bà M yêu cầu ly hôn, tôi không đồng ý vì tôi còn thương yêu vợ, con.
Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung tên Võ Lệ Chí T2 sinh ngày 14/01/2019. Trường hợp Toà án chấp nhận cho ly hôn, tôi đồng ý giao con chung cho bà M trực tiếp nuôi.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa giải quyết tài sản chung, về nợ chung chúng tôi không có.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Trần Trà M về việc được ly hôn ông Võ Ngọc T; giao con chung Võ Lê Chí T1 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà M không yêu cầu; buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Trần Trà M và ông Võ Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 12/6/2018. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà M trình bày trong thời gian chung sống, giữa bà M và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ không còn, vì vậy bà M yêu cầu được ly hôn ông T. Toà án đã hoà giải để hai bên đoàn tụ nhưng không thành. Thực tế bà M và ông T đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa bà M và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không T được, do đó chấp nhận cho bà Lê Trần Trà M được ly hôn ông Võ Phát T3.
- [2.2] Về con chung: Bà M và ông T3 có một con chung là Võ Lê Chí T1, sinh ngày 14/01/2019. Tại phiên toà, ông T3 đồng ý giao con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, HĐXX ghi nhận sự thoả thuận của bà M và ông T3 về việc giao con chung là cháu Võ Lê Chí T1 cho bà Lê Trần Trà M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Võ Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Lê Trần Trà M không yêu cầu.
- [2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Toà giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí: Bà Lê Trần Trà M phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Trần Trà M.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Trần Trà M được ly hôn ông Võ Ngọc T.
- Về con chung: Giao con chung là Võ Lê Chí T1, sinh ngày 14/01/2019 cho bà Lê Trần Trà M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Võ Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Lê Trần Trà M không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, vì lợi ích của con chung, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Lê Trần Trà M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003046 ngày 17/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Do đó, bà Lê Trần Trà M đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Hải |
Quyết định số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG về ly hôn
- Số quyết định: 37/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Trần Trà M ly hôn Võ Ngọc T
