|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2025/DS-ST Ngày: 16 - 6- 2025 Về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Ung Thị Ngọc Thanh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Thu An
2. Ông Phạm Xuân Đính
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Huế - Cán bộ tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành.
Đại diện Viện kiểm sát tham dự phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh– kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Trong ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại hội trường xét xử Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 51/TLST-DS ngày 24/02/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-DS ngày 22/5/2025.
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q(M). Địa chỉ: Số A, phường T, quận C, thành phố Hà Nội
Đại diện theo pháp luật: ông Lưu Trung T tịch hội đồng quản trị
Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH Q1 - Ngân Hàng TMCP Q (M1), địa chỉ: Tòa nhà M, số C, phường L, quận B - Hà Nội
Đại diện theo ủy quyền: ông Mạc Đức T1– Giám đốc Chi nhánh – M: Tòa nhà N, Số I, Đường H, Phường C, TP ., tỉnh Bình Dương
Người uỷ quyền lại: Ông Lưu Duy L năm 1985, địa chỉ: Số I. C, TP ., tỉnh Bình Dương(có mặt)
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H T3sinh năm 1992 và ông Nguyễn Văn Đ năm 1991. Cùng địa chỉ: Tổ A, KP.4, P. M, TX. C, tỉnh Bình Phước (ông Đ1 mặt, bà T3vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 22 tháng 11 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 10/8/2023, Ngân hàng TMCP Q nhánh Bvà ông Nguyễn Văn Đ2 Nguyễn Thị H T3đã cùng ký kết Hợp đồng tín dụng số 0001.23.141.28761454.TD cùng các khế ước nhận nợ số LD2322342714; theo đó Ngân hàng M1cho ông Đ2 T3vay số tiền 1.730.000.000 kể từ ngày 10/8/2023, lãi suất 9,5%/năm, mục đích vay là Bổ sung vốn kinh doanh đồ điện gia dụng, đồ dùng gia đình khác (ống nước, đồ điện, quạt, lưới đan, kệ sắt, cân, ốc vít) Tổng số tiền giải ngân: 1.730.000.000 đồng
Tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ tín dụng của ông Nguyễn Văn Đ3 bà Nguyễn Thị H T3 nêu trên gồm:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 1058, tờ bản đồ số: 33; địa chỉ: khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phướctheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH807968, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS11591 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ngày 10/01/2023.
Tài sản bảo đảm nêu trên được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số: 191780.23.141.28761454.BĐ ký ngày 10/08/2023; số công chứng: 007905, Quyển số: 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn Đ3 bà Nguyễn Thị Hà T2 đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ dẫn đến khoản vay bị quá hạn.
Dư nợ tạm tính đến ngày 16/6/2025, ông Nguyễn Văn Đ3 bà Nguyễn Thị H T3 còn nợ số tiền 2.038.768.540 đồng, trong đó bao gồm 1.729.999.222 đồng nợ gốc, 9.782.795 đồng nợ lãi trong hạn, 298.986.523 đồng nợ lãi quá hạn. Ngân hàng đã gửi nhiều thông báo, công văn yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ3 bà Nguyễn Thị H T3 trả nợ và bàn giao tài sản bảo đảm cho MB xử lý theo đúng quy định nhưng ông Nguyễn Văn Đ3 bà Nguyễn Thị H T3 đều không thực hiện theo yêu cầu, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Ngân hàng TMCP Q yêu cầu tòa án giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn Văn Đ3 bà Nguyễn Thị H T3 thanh toán cho Ngân hàng M1số tiền: 2,038,768,540 đồng, trong đó bao gồm 1,729,999,222 đồng nợ gốc; 9,782,795 đồng nợ lãi trong hạn; 298,986,523 đồng nợ lãi quá hạn (Tính đến ngày 16/6/2025).
- Kể từ ngày 21/11/2024, ông Nguyễn Văn Đ3 bà Nguyễn Thị H T3 còn phải thanh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ nêu trên cho đến khi thanh toán xong khoản nợ;
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Văn Đ3 bà Nguyễn Thị H T3 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng M1có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho MB, tài sản bảo đảm là:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 1058, tờ bản đồ số: 33; địa chỉ: khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phướctheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH807968, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS11591 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ngày 10/01/2023.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Văn Đ3 bà Nguyễn Thị H T3đối với MB. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Văn Đ3 bà Nguyễn Thị H T3 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho MB.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn Đ4 bày:
Ông Đình thống Ncó vay tiền, thế chấp tài sản và còn nợ lại lãi, gốc như phía ngân hàng trình bày. Tuy nhiên, vì điều kiện kinh tế khó khăn xin ngân hàng tạo điều kiện cho gia đình ông Đ1 thời gian bán đất trả nợ
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H T3Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bà T3làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như tham gia phiên tòa nhưng bà T3vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bà T3được.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
- Bị đơn bà Nguyễn Thị H T3vắng mặt không có lý do
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành đúng các quy định về thủ tục tố tụng, về thời hạn, đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình khi tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị H T3không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình khi tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên không kiến nghị gì thêm.
Về nội dung đề nghị HĐXX áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 303, 317, 323, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14gày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án tuyên: Buộc ông Nguyễn Văn Đbà Nguyễn Thị H T3 có nghĩa vụ trả cho ngân hàng TMCP Q(M) số tiền 2.038.768.540 đồng, trong đó bao gồm 1.729.999.222 đồng nợ gốc; 9.782.795 đồng nợ lãi trong hạn; 298.986.523 đồng nợ lãi quá hạn; Buộc ông Đ2 T3phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 0001.23.141.28761454.TD ngày 10/8/2023, trên số nợ gốc còn lại tính từ ngày 17/6/2025 cho đến khi trả hết số tiền nợ gốc; Trường hợp ông Nguyễn Văn Đbà Nguyễn Thị H T3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình thì TMCP Q(MB) có quyền yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp và toàn bộ tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 1058, tờ bản đồ số 33; địa chỉ: Khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phướctheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH807968, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS11591 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ngày 10/01/2023 đứng tên ông Nguyễn Văn Đ5; Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Văn Đbà Nguyễn Thị H T3 đối với MB. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Văn Đbà Nguyễn Thị H T3 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho MB.
Về án phí: Đề nghị xem xét bị đơn phải chịu
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1].Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Điều 317 và Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 do Ngân hàng TMCP Q(viết tắt là MB) đứng đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2].Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ2 Nguyễn Thị H T3có nơi cư trú tại tổ A, khhu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị H T3vắng mặt đến lần thứ 2 mặt dù đã được triệu tập hợp lệ. Do đó, căn cứ tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng M2, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1].Về hình thức, nội dung và thẩm quyền ký kết của Hợp đồng cấp tín dụng số 0001.23.141.28761454.TD cùng văn bản nhận nợ số LD2322342714 Ngân hàng TMCP Q nhánh Bvà ông Nguyễn Văn Đbà Nguyễn Thị H T3là trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vì vậy, các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.
[2.2].Về yêu cầu trả nợ gốc và lãi:
Phía nguyên đơn cho rằng: Ngày 10/8/2023, Ngân hàng TMCP Q nhánh Bđã giải ngân: 1.730.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn Đ2 Nguyễn Thị H T3 theo văn bản nhận nợ số LD2322342714. Tính đến ngày 16/6/2025, ông Nguyễn Văn Đ3 bà Nguyễn Thị H T3 còn nợ MB là: 2.038.768.540 đồng, trong đó bao gồm 1.729.999.222 đồng nợ gốc; 9.782.795 đồng nợ lãi trong hạn; 298.986.523 đồng nợ lãi quá hạn.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn cung cấp hợp đồng tín dụng số 0001.23.141.28761454.TD và Văn bản nhận nợ LD2322342714 ngày 10/8/2023 có chữ ký của ông Nguyễn Văn Đbà Nguyễn Thị H T3 Thể hiện ngân hàng M2 đã giải ngân số tiền 1.730.000.000 đồng cho ông Đ2 T3
Ông Nguyễn Văn Đbà Nguyễn Thị H T3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng mặc dù đã được Ngân hàng gửi thông báo nợ đến hạn. Như vậy, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại điều 466 Bộ Luật dân sự 2015.
Về lãi suất: Xét thấy, do ông Đ2 T3đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã chuyển khoản nợ trên thành khoản nợ quá hạn và yêu cầu bị đơn phải trả lãi theo hợp đồng tín dụng. Việc Ngân hàng áp dụng mức lãi suất và yêu cầu ông Đ, bà T3phải trả là phù hợp với quy định về lãi suất và lãi suất quá hạn của hợp đồng tín dụng, phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7,8,12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất nên HĐXX chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q(M) buộc ông Nguyễn Văn Đ3 bà Nguyễn Thị H T3 phải trả cho ngân hàng M1số tiền 2.038.768.540 đồng (hai tỷ không trăm ba mươi tám triệu bảy trăm sáu mươi tám ngìn năm trăm bốn mươi đồng), trong đó bao gồm 1.729.999.222 đồng nợ gốc; 9.782.795 đồng nợ lãi trong hạn; 298.986.523 đồng nợ lãi quá hạn.
Buộc ông Đ2 T3 phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nói trên trên số nợ gốc còn lại tính từ ngày 15/6/2025 cho đến khi trả hết số tiền nợ gốc.
[2.3] Về hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Hội đồng xét xử xét thấy:
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ, ông Đ2 T3đã ký Hợp đồng thế chấp số: 191780.23.141.28761454.BĐ ký ngày 10/08/2023; số công chứng: 007905, Quyển số: 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD và được đăng ký Giao dịch bảo đảm ngày 10/8/2023 tại Chi nhánh VPĐKĐĐ TX. Chơn Thành. Tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1058, tờ bản đồ số 33; địa chỉ: khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phướctheo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH807968, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS11591 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ngày 10/01/2023 đứng tên ông Nguyễn Văn Đ5.
Như vậy, xét về hình thức, nội dung và thẩm quyền ký kết của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đã được thực hiện đúng theo quy định pháp luật nên cần buộc các bên có nghĩa vụ thi hành.
Căn cứ vào Điều 6 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 191780.23.141.28761454.BĐ ký ngày 10/08/2023; số công chứng: 007905, Quyển số: 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD và Điều 303 Bộ luật dân sự năm 2015. Trong trường hợp ông Đ2 T3không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay theo hợp đồng thế chấp là có căn cứ, được chấp nhận.
[3].Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên Ngân hàng TMCP Q phải chịu.
Bị đơn phải chịu án phí theo mức án phí có giá ngạch tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn là 72.775.370 đồng.
[4]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, do Ngân hàng TMCP Q đã tạm ứng số tiền 3.000.000 đồng nên buộc ông H1 H1phải trả lại cho Ngân hàng TMCQ Qsố tiền 3.000.000 đồng.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 303, 317, 323, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số: 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân Hàng TMCP Q
- Buộc ông Nguyễn Văn Đ5, bà Nguyễn Thị H T3 có nghĩa vụ trả cho ngân hàng TMCP Q(M) số tiền 2.038.768.540 đồng (hai tỷ không trăm ba mươi tám triệu bảy trăm sáu mươi tám ngìn năm trăm bốn mươi đồng), trong đó bao gồm 1.729.999.222 đồng nợ gốc; 9.782.795 đồng nợ lãi trong hạn; 298.986.523 đồng nợ lãi quá hạn.
- Buộc ông Đ, bà T3phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 0001.23.141.28761454.TD ngày 10/8/2023, trên số nợ gốc còn lại tính từ ngày 17/6/2025 cho đến khi trả hết số tiền nợ gốc.
- Trường hợp ông Nguyễn Văn Đbà Nguyễn Thị H T3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình thì TMCP Q(MB) có quyền yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp và toàn bộ tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 1058, tờ bản đồ số 33; địa chỉ: Khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phướctheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH807968, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS11591 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ngày 10/01/2023 đứng tên ông Nguyễn Văn Đ5
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Văn Đbà Nguyễn Thị H T3 đối với MB. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Văn Đbà Nguyễn Thị H T3 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho MB.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Văn Đbà Nguyễn Thị H T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 72.775.370 đồng. Ngân hàng TMCP Q(M) không phải chịu, nguyên đơn được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 34.675.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0004766 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Văn Đbà Nguyễn Thị H T3 phải trả lại cho Ngân hàng TMCP Q(M) số tiền 3.000.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ung Thị Ngọc Thanh |
Quyết định số 37/2025/DS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số quyết định: 37/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chap tin dung
