|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2024/HNGĐ
Ngày: 23/7/2024
Về việc: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu – Bà Phan Kim Hoa
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền; Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024, về tranh chấp: Ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QÐST-HNGĐ ngày 11/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Ngân Thị L – sinh năm 1992 – vắng mặt
Nơi ĐKNKTT: K, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Chổ ở hiện nay: Số A đường G, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Ngô Sỹ L1 – sinh năm 1980 – vắng mặt
Nơi ĐKNKTT: K, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào đơn xin ly hôn ngày 06/01/2024 và những lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án của bà Ngân Thị L thì: Bà Ngân Thị L và ông Ngô Sỹ L1 kết hôn với nhau vào năm 2017, hôn nhân tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An vào ngày 02/6/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Nay bà L thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông Ngô Sỹ L1 để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.
Về tài sản: Bà Ngân Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Ngô Sỹ L1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án lấy lời khai thì ông L1 thừa nhận về thời gian kết hôn như bà L khai là đúng, theo ông L1 thì vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, bà L làm đơn xin ly hôn thì ông L1 mong muốn được đoàn tụ. Nếu bà L vẫn kiên quyết ly hôn thì ông L1 cũng đồng ý. Quá trình chung sống vợ chồng chưa có con chung, tài sản không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 BLTTDS; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 BLTTDS; xác định đúng tư cách đương sự, Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định tại Điều 203 BLTTDS. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS.
- - Về nội dung vụ án: Về tình cảm vợ chồng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn xử cho bà Ngân Thị L được ly hôn với ông Ngô Sỹ L1.
- - Về quan hệ tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Ngân Thị L làm đơn yêu cầu được ly hôn với ông Ngô Sỹ L1 nên Tòa án thụ lý vụ án Hôn nhân và gia đình để xem xét, giải quyết là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà, ông Ngô Sỹ L1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ khoản 1 điều 207 và khoản 1 điều 228 BLTTDS để giải quyết vụ án. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin xét xử vắng mặt bà Ngân Thị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ tình cảm: Bà Ngân Thị L và ông Ngô Sỹ L1 kết hôn với nhau vào năm 2017, hôn nhân tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An vào ngày 02/6/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Quá trình lấy lời khai, ông L1 có nguyện vọng xin được đoàn tụ nhưng nếu bà L vẫn kiên quyết xin ly hôn thì ông L1 cũng nhất trí ly hôn. Như vậy, có thể khẳng định cuộc sống hôn nhân giữa bà L và ông L1 trên thực tế không còn tồn tại, tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà L, xử cho bà Ngân Thị L được ly hôn với ông Ngô Sỹ L1.
[2.2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng chưa có con chung vì vậy miễn xét.
[2.3] Về quan hệ tài sản: Bà L, ông L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[2.4] Về án phí: Bà Ngân Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, X:
- - Về quan hệ tình cảm: Xử cho bà Ngân Thị L được ly hôn ông Ngô Sỹ L1.
- - Về án phí: Bà Ngân Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí LHST (nhưng được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo BL số 0004425 ngày 09/4/2024).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồ Hòa |
Quyết định số 37/2024/HNGĐ ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN về ly hôn
- Số quyết định: 37/2024/HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân và gia đình
