|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 355/2024/HNGĐ-ST
Ngày 21 - 8 - 2024
V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Á
- Ông Nguyễn Hữu Tố
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Tuyền - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 242/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thùy X, sinh năm 1993 (có mặt)
- Bị đơn: Anh Lê Minh N, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: A P, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện ngày 22 tháng 4 năm 2024 và lời khai của nguyên đơn chị Trần Thị Thùy X trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
- - Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thùy X và anh Lê Minh N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H vào năm 2020. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó thường phát sinh mâu thuẫn, hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị X yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
- - Về nuôi con chung: Có 02 con chung sinh đôi tên Lê Tuệ M, sinh ngày 11/10/2020 và Lê Tuệ A, sinh ngày 11/10/2020. Sau ly hôn, chị X yêu cầu được nuôi 02 con. Yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 2.000.000 đồng/ tháng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành.
- - Về chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Minh N trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị X tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H vào năm 2020. Hiện nay hai vợ chồng không còn thương yêu nhau. Nay chị X yêu cầu ly hôn thì anh N đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Có 02 con chung sinh đôi tên Lê Tuệ M, sinh ngày 11/10/2020 và Lê Tuệ A, sinh ngày 11/10/2020. Sau ly hôn, anh N yêu cầu được nuôi 02 con và không yêu cầu chị X phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án phù hợp với quy định của pháp luật.
- - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- - Về việc giải quyết vụ án:
- + Về hôn nhân: Căn cứ các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thùy X được ly hôn với anh Lê Minh N.
- + Về nuôi con chung: Có 02 con chung sinh đôi tên Lê Tuệ M, sinh ngày 11/10/2020 và Lê Tuệ A, sinh ngày 11/10/2020, đề nghị giao con cho chị X nuôi dưỡng. Buộc anh N cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
- + Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Trần Thị Thùy X phải chịu theo quy định pháp luật.
- - Án phí cấp dưỡng: Anh N chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
2
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Chị Trần Thị Thùy X yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn giải quyết ly hôn, giải quyết về con chung với anh Lê Minh N, đây là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn anh Lê Minh N có hộ khẩu thường trú tại khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thùy X và anh Lê Minh N tự nguyện tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định vào ngày 23 tháng 10 năm 2020 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 92/01; căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của chị X và anh N được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét thấy, giữa chị X và anh N trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc. Hai người không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn chị X yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn cho anh N và anh N cũng đồng ý ly hôn. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn giữa chị X và anh N đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị X yêu cầu được ly hôn với anh N là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu nuôi con chung: Chị X và anh N có 02 con chung sinh đôi tên Lê Tuệ M, sinh ngày 11/10/2020 và Lê Tuệ A, sinh ngày 11/10/2020. Hội đồng xét xử thấy rằng: Hiện nay các con còn nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ. Hơn nữa, chị X cũng tha thiết yêu cầu được nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh N cũng có yêu cầu nuôi con. Tuy nhiên, tại phiên Tòa hôm nay, anh N vắng mặt, không trình bày căn cứ để bảo vệ cho yêu cầu của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần giao hai cháu Lê Tuệ M, sinh ngày 11/10/2020 và Lê Tuệ A, sinh ngày 11/10/2020 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp.
Tại phiên Tòa, chị X yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi hai con, mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành. Yêu cầu này của chị X là phù hợp nên được chấp nhận. Buộc anh Lê Minh N phải cấp dưỡng nuôi cháu Lê Tuệ M và cháu Lê Tuệ A mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng/cháu cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành.
3
[2.3] Về chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn: Chị X và anh N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thùy X phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Án phí cấp dưỡng: Anh N phải nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thùy X, cho chị Trần Thị Thùy X được ly hôn với anh Lê Minh N.
- Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Lê Tuệ M, sinh ngày 11/10/2020 và Lê Tuệ A, sinh ngày 11/10/2020 cho chị Trần Thị Thùy X trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về chia tài sản và nợ chung khi ly hôn: Không yêu cầu.
- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Trần Thị Thùy X phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đồng sung công quỹ Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị X đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006554 ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Buộc anh Lê Minh N phải cấp dưỡng nuôi cháu Lê Tuệ M và cháu Lê Tuệ A mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng/cháu cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Án phí đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng: Buộc anh Lê Minh N nộp 300.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Vương |
Quyết định số 355/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số quyết định: 355/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
