|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/DS-ST Ngày 23 tháng 5 năm 2024 |
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Môn
2. Bà Hoàng Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Đặng Minh Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 178/2023/TLST- DS ngày 25/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-DS ngày 01/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QÐST-DS ngày 25/4/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
- - Bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1968, (Có mặt).
- Địa chỉ: Số H, đường L, khu đô thị P, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
- - Bà Nguyễn Bích N, sinh năm 1956, (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Khu A, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà N: Bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1968; Địa chỉ: Số H, đường L, khu đô thị P, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (Thảo Hợp đồng uỷ quyền ngày 15/12/2023), (Có mặt).
*Bị đơn:
- - Anh Đinh Văn H1, sinh năm 1983, (Vắng mặt).
- - Chị Lâm Thị C (tên khác: Lâm Thị T), sinh năm 1992, (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Số nhà D, chợ M, đường B, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Toà án, nguyên đơn – Bà Nguyễn Kim H trình bày:
Chị em bà là Nguyễn Kim H và Nguyễn Bích N chung vốn làm ăn, có cho vợ chồng anh Đinh Văn H1 và chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) - là người có mối quan hệ làm ăn quen biết với hai bà từ trước vay tiền. Hai bên xác lập Giấy vay tiền viết tay, có chữ ký của hai vợ chồng anh H1 và chị T (tên khác: C), nội dung: Vay số tiền 2.747.896.000đồng (hai tỷ bảy trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng), chốt nợ ngày 23/7/2020, hẹn đến tháng 12/2020 trả 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng), đến tháng 5/2021 trả nốt số tiền còn lại. Tuy nhiên, từ khi viết giấy vay đến nay, vợ chồng anh H1 và chị T (tên khác: C) chưa trả cho hai bà bất kỳ khoản tiền nào. Bà và bà N đã nhiều lần đến gặp để đòi tiền nhưng vợ chồng anh H1 không trả. Số tiền này là tiền chung của hai bà, không xác định được số tiền cụ thể của từng người trong tổng số tiền cho vợ chồng anh H1 vay.
Nay bà cùng bà N khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh Đinh Văn H1 và chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) phải trả cho hai bà số tiền nợ gốc 2.747.896.000đồng (hai tỷ bảy trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Bà không yêu cầu tính lãi đối với số tiền này.
*Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Toà án, Nguyên đơn – bà Nguyễn Bích N trình bày:
Bà là chị của bà Nguyễn Kim H, hai bà có chung vốn làm ăn và cùng cho vợ chồng anh Đinh Văn H1, chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) vay số tiền 2.747.896.000đồng (hai tỷ bảy trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Khi cho vay, hai bên có xác lập Giấy vay tiền chốt nợ ngày 23/7/2020, trong đó vợ chồng anh H1 và chị T (tên khác: C) hẹn đến tháng 12/2020 trả 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng), đến tháng 5/2021 trả nốt số tiền còn lại. Tuy nhiên, từ khi viết giấy vay đến nay, vợ chồng anh H1 và chị T (tên khác: C) chưa trả cho hai bà bất kỳ khoản tiền nào. Số tiền này là tiền chung của hai bà, không xác định được số tiền cụ thể của từng người trong tổng số tiền cho vợ chồng anh H1 vay.
Nay bà cùng bà H khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh Đinh Văn H1 và chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) phải trả cho hai bà số tiền nợ gốc 2.747.896.000đồng (hai tỷ bảy trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Bà không yêu cầu tính lãi đối với số tiền này.
*Quá trình tham gia tố tụng, Bị đơn là chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) trình bày:
Chị đã biết Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim H và Nguyễn Bích N. Chị xác nhận vợ chồng chị có vay của hai bà số tiền 2.747.896.000đồng (hai tỷ bảy trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Tuy nhiên từ khi chốt nợ đến nay, vợ chồng chị chưa trả cho hai bà H, Ngọc đồng nào. Nay bà H và bà N khởi kiện đến Toà án đòi số tiền vừa nêu trên thì chị đồng ý. Do chị bận con nhỏ nên không đến Toà án làm việc theo triệu tập, chị đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Chồng chị là anh Đinh Văn H1 đi làm ăn xa, thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, chị không biết địa chỉ hiện tại của anh H1.
*Quá trình tham gia tố tụng, Bị đơn là anh Nguyễn Văn H2 vắng mặt tại địa phương, Toà án đã tiến hành xác minh và tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay:
*Nguyên đơn là bà Nguyễn Kim H, đồng thời là đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Bích N đề nghị Hội đồng xét xử:
Buộc vợ chồng anh Đinh Văn H1 và chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) phải trả cho hai bà Nguyễn Kim H, Nguyễn Bích N số tiền nợ gốc 2.747.896.000đồng (hai tỷ bảy trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
*Bị đơn - anh Đinh Văn H1 vắng mặt không có lý do, bị đơn – chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) có đề nghị giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu quan điểm:
+ Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đúng với quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền nghĩa vụ như vắng mặt khi Tòa án mở phiên họp, hoà giải, vắng mặt tại phiên tòa;
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử như sau :
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim H, Nguyễn Bích N: Buộc vợ chồng anh Đinh Văn H1 và chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) phải trả cho hai bà Nguyễn Kim H, Nguyễn Bích N số tiền nợ gốc 2.747.896.000đồng (hai tỷ bảy trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng)
- Về án phí: Anh Đinh Văn H1 và chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) phải chịu 86.957.900 đồng (T1 mươi sáu triệu chín trăm năm mươi bảy nghìn chín trăm đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp vay tài sản đối với bị đơn. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn – anh Đinh Văn H1, chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) có địa chỉ cư trú tại xã T, thành phố B, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Bị đơn là chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) có đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt. Bị đơn là anh Đinh Văn H1 được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về nội dung vụ án:
Bà Nguyễn Kim H và bà Nguyễn Bích N cho vợ chồng anh Đinh Văn H1, chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) vay số tiền 2.747.896.000 đồng (hai tỷ bảy trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Khi vay có lập Giấy vay tiền, có chữ ký của vợ chồng anh H1, chốt nợ vào ngày 23/7/2020, anh H1 và chị T (tên khác: C) hẹn đến tháng 12/2020 trả 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), đến tháng 5/2021 trả nốt số tiền còn lại. Tuy nhiên, từ khi vay đến nay, vợ chồng anh H1 chưa trả cho hai bà N, H khoản tiền nào.
Nay bà N, bà H khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh H1 và chị T (tên khác: C) phải trả số tiền nợ 2.747.896.000đồng (hai tỷ bảy trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng), bị đơn là chị T (tên khác: Chính) xác nhận vợ chồng có nợ hai bà khoản tiền này. Xét thấy: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của hai bà là phù hợp theo quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015.
Việc hai bà H, N đều xác định số tiền 2.747.896.000 đồng (hai tỷ bảy trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng) là khoản tiền góp vốn làm ăn chung của hai bà, không xác định cụ thể trong đó ai có bao nhiêu tiền, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải xác định cụ thể khoản tiền của ai góp bao nhiêu, mà chấp nhận yêu cầu của cả hai bà đối với số tiền chung này.
Bà N và bà H không yêu cầu lãi đối với số tiền nợ gốc, do vậy không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự 2025;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim H, Nguyễn Bích N: Buộc vợ chồng anh Đinh Văn H1 và chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) phải trả cho hai bà Nguyễn Kim H, Nguyễn Bích N số tiền nợ gốc 2.747.896.000 đồng (hai tỷ bảy trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
- Về án phí: Anh Đinh Văn H1 và chị Lâm Thị T (tên khác: Lâm Thị C) phải chịu 86.957.900 đồng (T1 mươi sáu triệu chín trăm năm mươi bảy nghìn chín trăm đồng). Hoàn trả bà Nguyễn Kim H và bà Nguyễn Bích N số tiền 43.400.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0000171 ngày 25/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
- Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Đình Hưng |
Quyết định số 35/2024/DS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số quyết định: 35/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Kim H và anh Đinh Văn H1 tranh chấp hợp đồng vay tài sản
