Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 10-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Phước.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Dõng và bà Huỳnh Thị Yến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu Q, sinh năm 2001; tại: tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: thôn F, xã M, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1979; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là người con thứ 2 trong gia đình; có vợ là Nguyễn Đỗ U, sinh năm 2001, có 02 người con lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2022;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/02/2024, tạm giữ, tạm giam cho đến nay tại nhà tạm giữ - Công an huyện T. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1977; nơi cư trú: thôn F, xã M, huyện T, tỉnh Bình Thuận; (Có mặt)

- Người làm chứng:

Ông Nguyễn Hải L, sinh năm 1979; nơi cư trú: thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt)

Ông Lê Văn H, sinh năm 1990; nơi cư trú: thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ, ngày 07/02/2024, Nguyễn Hữu Q đang ở nhà thì một người tên Pé M gọi điện thoại rủ Q đến xã Đ để cùng sử dụng ma túy thì Q đồng ý. Sau đó, Q mang theo một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá cất giấu trong người rồi lấy xe mô tô biển kiểm soát 86B7-370.06 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Hữu N đang để trong nhà, điều khiển đến khu vực gần nhà máy C thuộc xã Đ. Khi đến nơi, Q gọi điện thoại thông báo cho Pé M qua ứng dụng Zalo nói: “Tao lên tới nơi rồi”, Pé M nói “Đợi xíu, có người đem ra, mày nhận rồi đổ ra nấu lên, xíu tao ra chơi” thì Q đồng ý và tắt máy. Khoảng 10 phút sau, Q đang ngồi đợi ở đường bê tông thì có một người thanh niên (do trời tối Q không thấy rõ mặt và không xác định được nhân thân lại lịch) điều khiển xe mô tô đến đưa cho Q 01 gói thuốc nhãn hiệu 999, Q cầm gói thuốc và kiểm tra thì phát hiện bên trong chứa 01 (một) tép ma túy đá, sau đó người thanh niên đó bỏ đi không nói gì, Q lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy trong người ra và lấy ma túy mới nhận được từ người thanh niên đổ vào dụng cụ sử dụng ma túy một ít, số còn lại Q dùng bật lửa hàn tép ma túy lại như ban đầu, bỏ vào bao thuốc lá 999 và cất trong túi quần phía trước bên trái của Q đang mặc. Sau đó Q dùng bật lửa đốt ma túy trong bộ dụng cụ rồi ngồi đợi Pé Mỏ đến cùng sử dụng. Khoảng 30 phút sau, không thấy Pé Mỏ đến, Q gọi điện thoại thì không liên lạc được nên Q lấy bộ dụng cụ cất vào bên trong áo phía trước bụng của Q, rồi điều khiển xe mô tô đi tìm Pé M.

Đến khoảng 01 giờ cùng ngày, Công an xã Đ đang tiến hành tuần tra thì phát hiện Nguyễn Hữu Q đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86B7-370.06 trên đường bê tông thuộc thôn B, xã Đ, tổ công tác tiến hành dừng xe và kiểm tra thì phát hiện trên người của Q cất giấu 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và trong túi quần phía trước bên trái có 01 gói nylon màu trắng được hàn kín hai đầu kích thước (01x3,5)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng để trong gói thuốc lá hiệu 999. Qua làm việc, tổ công tác tiến hành bắt giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong toàn bộ tang vật.

- Tang vật thu giữ gồm:

  • + 01 (một) gói nylon màu trắng trong, kích thước 01cm x 3,5cm được hàn kín các mép bên trong chứa tinh thể màu trắng; (Mẫu M2)
  • + 01 (một) vỏ gói thuốc màu vàng xanh nhãn hiệu 999 đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã qua sử dụng gồm: 01 (một) vỏ chai nước khoáng nhựa thể tích thực 250ml nhãn hiệu “ASIA” trên nắp chai được đục hai lỗ tròn, 01 (một) lỗ tròn có gắn sẵn 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, 01 (một) ống thủy tinh bên trong thành ống có bám màu trắng đục đường kính 0,5cm có một đầu uốn cong dài khoảng 04cm, phần ống thủy tinh còn lại dài đã bị gãy và nối với một đoạn ống hút nhựa màu đen. (Mẫu M1)
  • + 01 (một) chiếc xe mô tô WINNER biển kiểm soát 86B7-370.06 đã qua sử dụng;
  • + 01 chiến điện thoại đi động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS màu vàng gold có số seri: F2LTK4S6HFY9 gắn sim số: 039.605.1xxx đã qua sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 206/KL-KTHS ngày 13/2/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B đã kết luận:

“- 01 (một) nắp chai nước khoáng bằng nhựa, trên nắp chai được đục hai lỗ tròn, 01 (một) lỗ tròn có gắn sẵn 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, lỗ tròn còn lại gắn 01 (một) ống thủy tinh bên trong thành có bám màu trắng đục đường kính 0,5cm có một đầu uốn cong đường kính khoảng 0,5cm, dài 04cm, một đầu thổi phồng thành hình cầu có lỗ tròn bên trong chứa tinh thể màu nâu (Ký hiệu M1), một đầu ống thủy tinh còn lại nối với 01 (một) ống hút nhựa màu đen; gửi giám định có khối lượng là 0,0603gam là Methamphetamine.

- 01 (một) gói nylon màu trắng trong, kích thước (0,1 x 3,5)cm được hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng; (Ký hiệu M2); gửi giám định có khối lượng là 0,1342gam là Methamphetamine."

Tại Bản cáo trạng số 30/CT-VKSND-TL ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh: Giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Q mức án 12 tháng đến 15 tháng tù giam.
  • Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 BLHS và điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy:
  • + 01 (một) nắp chai nước khoáng bằng nhựa, trên nắp chai được đục hai lỗ tròn, 01 (một) lỗ tròn có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) ống thủy tinh bên được uốn cong đường kính 0,5cm, dài 04cm, một đầu thổi phồng thành hình cầu có lỗ tròn; 01 ống hút nhựa màu đen: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 206/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B (Trong quá trình giám định mẫu M1 đã được phân tích hết).
  • + 01 gói nylon màu trắng trong, kích thước (0,1 x 3,5)cm, đã được hàn kín, đã cắt lấy mẫu; 0,0723gam mẫu M2 còn lại sau giám định; Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 206/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
  • + 01 vỏ gói thuốc màu vàng xanh nhãn hiệu 999 đã qua sử dụng;
  • - Ý kiến của bị cáo: Không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của người làm chứng: Người làm chứng ông Nguyễn Hải L và anh Lê Văn H vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời thể hiện trong hồ sơ vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành thu thập lời khai đầy đủ, rõ ràng đối với những người này nên việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến bản chất của vụ án hay gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, do đó căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người làm chứng này.

[3] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Hữu Q đã khai nhận toàn bộ hành vi như Bản cáo trạng đã quy kết: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng đã thu giữ trong vụ án; phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; Kết luận định giám định; lời khai của người làm chứng, người chứng kiến cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án;

Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 07/02/2024, tại đường bê tông thuộc thôn B, xã Đ bị cáo Nguyễn Hữu Q bị bắt quả tang vì đang có hành vi tàng trữ 01 (một) nắp chai nước khoáng bằng nhựa, trên nắp chai được đục hai lỗ tròn, 01 (một) lỗ tròn có gắn sẵn 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, lỗ tròn còn lại gắn 01 (một) ống thủy tinh bên trong thành có bám màu trắng đục đường kính 0,5cm có một đầu uốn cong đường kính khoảng 0,5cm, dài 04cm, một đầu thổi phồng thành hình cầu có lỗ tròn bên trong chứa tinh thể màu nâu và 01 (một) gói nylon màu trắng trong, kích thước (0,1 x 3,5)cm được hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng với khối lượng đã được giám định theo kết luận giám định số 206/KL-KTHS ngày 13/2/2024 của Phòng K Công an tỉnh B là 0,1945gam Methamphetamine là chất nằm trong danh mục các chất ma túy quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ. Mục đích Nguyễn Hữu Q tàng trữ trái phép chất ma túy để là để sử dụng. Như vậy là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo Nguyễn Hữu Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1945gam Methamphetamine. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh truy tố đối với hành vi của bị cáo là có căn cứ.

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, bị cáo góp phần làm phức tạp thêm tình hình an ninh trật tự và tệ nạn xã hội tại địa phương, làm gánh nặng thêm cho gia đình và xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn nhận thức được rằng hành vi tàng trữ trái phép ma túy dưới bất cứ hình thức nào cũng là hành vi vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Do đó cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm minh, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ dài để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và cũng để răng đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có quá trình nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vợ bị cáo không có việc làm ổn định, phải nuôi 2 con nhỏ sinh năm 2020 và sinh năm 2022, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên khi quyết định hình phạt cần xem xét lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với tính khoan hồng của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng: Hiện đang thu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh:

  • + 01 (một) nắp chai nước khoáng bằng nhựa, trên nắp chai được đục hai lỗ tròn, 01 (một) lỗ tròn có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) ống thủy tinh bên được uốn cong đường kính 0,5cm, dài 04cm, một đầu thổi phồng thành hình cầu có lỗ tròn; 01 ống hút nhựa màu đen: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 206/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B (Trong quá trình giám định mẫu M1 đã được phân tích hết).
  • + 01 gói nylon màu trắng trong, kích thước (0,1 x 3,5)cm, đã được hàn kín, đã cắt lấy mẫu; 0,0723gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 206/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B. Xét thấy, vật chứng trên là vật chứng cấm tàng trữ và không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • + 01 vỏ gói thuốc màu vàng xanh nhãn hiệu 999 đã qua sử dụng; Xét thấy, vật chứng trên là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Đối với hành vi của P Mỏ người gọi điện thoại rủ bị cáo sử dụng ma túy và người đưa ma túy cho bị cáo: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không xác định được nhân thân lai lịch, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ xử lý là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Căn cứ Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  3. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  4. Xử phạt: Nguyễn Hữu Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/02/2024.

  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
  6. Tịch thu tiêu hủy đối với:

    • + 01 (một) nắp chai nước khoáng bằng nhựa, trên nắp chai được đục hai lỗ tròn, 01 (một) lỗ tròn có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) ống thủy tinh bên được uốn cong đường kính 0,5cm, dài 04cm, một đầu thổi phồng thành hình cầu có lỗ tròn; 01 ống hút nhựa màu đen: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 206/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B (Trong quá trình giám định mẫu M1 đã được phân tích hết).
    • + 01 gói nylon màu trắng trong, kích thước (0,1 x 3,5)cm, đã được hàn kín, đã cắt lấy mẫu; 0,0723gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 206/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
    • + 01 vỏ gói thuốc màu vàng xanh nhãn hiệu 999 đã qua sử dụng;

    Tất cả các vật chứng nêu trên hiện đang thu giữ tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 5 năm 2024.

  7. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  8. Bị cáo Nguyễn Hữu Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  9. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/7/2024).

(Đã giải thích quyền kháng cáo)

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Tánh Linh;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an huyện Tánh Linh;
  • - Cơ quan THAHS - Công an huyện Tánh Linh;
  • - Nhà tạm giữ - Công an huyện Tánh Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Tánh Linh;
  • - UBND xã Măng Tổ (thay T/B);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Như Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 35/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số quyết định: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Q tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger