TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST;
Ngày: 20-3-2025
Vv tranh chấp: Xin ly hôn, tranh
chấp con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Nhung.
- Bà Bùi Thị Thu Nhi.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Như Thảo, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho;
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang.
Trong ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 460/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Ngọc Anh T, sinh năm 1997;
- Bị đơn: Sơn Nhật T1, sinh năm 1993;
Nơi cư trú: số A đường L, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: ấp H, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
(Chị T và anh T1 có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Anh T trình bày:
Chị và anh S Nhật Tiến tự nguyện cưới nhau vào năm 2021 và có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, chị và anh T1 sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không khắc phục được. Chị T và anh T1 đã sống riêng, không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên chị cương quyết xin ly hôn với anh T1.
Về con chung: Chị và anh T1 có một con chung tên Sơn Nhật V sinh ngày 29/9/2021. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản ghi lời khai ngày 22/01/2025, bị đơn Sơn Nhật T1 trình bày:
Anh đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Ngọc Anh T. Anh và chị T có một con chung là cháu S Nhật Vy sinh ngày 29/9/2021. Khi ly hôn, anh giao con chung cho chị T trực tiêp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, anh không và nợ chung không có.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng.
Về nội dung giải quyết vụ án: Chị T và anh T1 có mâu thuẫn thật sự và kéo dài, không khắc phục được ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng và anh chị đã thống nhất thuận tình ly hôn nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét căn cứ theo Điều 51, Điều 55 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, ghi nhận sự thuận tình ly hôn của chị T và anh T1. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, ghi nhận sự thoả thuận của chị T và anh T1 về con chung: Giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, anh T1 không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị T và anh T1 tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố M cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 17/2021 ngày 22/6/2021 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Đối với nguyên đơn Nguyễn Ngọc Anh T và bị đơn Sơn Nhật T1 đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Ngọc Anh T, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T xin ly hôn với anh T1 vì cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đời sống chung không thể kéo dài. Chị T và anh T1 đã sống riêng, không còn quan tâm đến nhau. Trong quá trính giải quyết vụ án, anh T1 có ý kiến đồng ý ly hôn với chị T. Căn cứ Điều 55, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị T và anh T1.
[4] Về con chung: Chị T và anh T1 thống nhất trình bày có một con chung tên Sơn Nhật V sinh ngày 29/9/2021. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của chị T là có căn cứ vì con chung đang sống với chị T đã ổn định và anh T1 có ý kiến đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 không cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận giữa chị T và anh T1 về con chung. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về chia tài sản và nợ chung: Chị T và anh T1 đều không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[6] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016, chị T phải chịu án phí án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
Căn cứ khoản Điều 28, Điều 35, Điều 147 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc Anh T. Chị Nguyễn Ngọc Anh T và anh Sơn Nhật T1 thống nhất thuận tình ly hôn.
Về con chung: Giao con chung tên S Nhật Vy sinh ngày 29/9/2021 cho chị Nguyễn Ngọc Anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Sơn Nhật T1 không cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Ngọc Anh T không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị T được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai số 0006641 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên chị T đã nộp xong án phí.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Thị Mỹ Trang |
Quyết định số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về xin ly hôn, tranh chấp con chung
- Số quyết định: 35/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, tranh chấp con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chap nhan yeu cau
