|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/HS-PT Ngày: 03-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Thành
Các Thẩm phán: Ông Dương Viết Hải và bà Từ Thị Hải Dương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Hoàng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/HSPT ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thanh T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2024/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Bị cáo: Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 08/4/1994 tại Quảng Bình; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố F, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị T2; vợ Phạm Thị H, sinh năm 1992 và 01 người con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/10/2019, bị Công an huyện B, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi báo tin giả đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và đã nộp phạt; Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình từ ngày 06/12/2023 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được xác định như sau:
Do có ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền để tiêu xài cá nhân, Nguyễn Thanh T thông qua mạng xã hội, sử dụng tài khoản facebook cá nhân tên “Nguyễn Thanh T” để đăng tải những bài viết quảng cáo nhận làm hồ sơ thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhằm lừa lấy tiền những người có nhu cầu.
Vào đầu tháng 9/2022 anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1988, trú tại T, xã T có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng thửa đất số 188, tờ bản đồ số 45, địa chỉ TDP3 P nên lên mạng xã hội tìm hiểu và biết được thông tin của tài khoản facebook cá nhân tên “Nguyễn Thanh T”. Thông qua việc trao đổi với nhau, T biết anh Đ có nhu cầu nên đã dùng thủ đoạn gian dối, biết mình không có khả năng làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhưng vẫn nhận làm chuyển đổi mục đích sử dụng đất, từ đất rừng sản xuất sang đất thổ cư cho thửa đất số 188, tờ bản đồ số 45, địa chỉ tại TDP3 P, B của anh Đ với mức phí tiền công là 35.000.000 đồng; cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Ngày 08/9/2022, T đến nhà của anh Đ tại T3, B, Đ, Quảng Bình để làm hợp đồng nhận các giấy tờ liên quan đến thửa đất và ứng trước số tiền 15.000.000 đồng tiền phí từ anh Đ, T hẹn anh Đ trong vòng 06 tháng kể từ ngày ký hợp đồng sẽ có sổ đỏ.
- Lần thứ hai: Ngày 17/10/2022, T tiếp tục nói dối với anh Đ cần thêm tiền để chi cho việc làm thủ tục và ứng thêm 5.000.000 đồng, anh Đ đồng ý và chuyển khoản 5.000.000 đồng cho T, thực tế T không làm thủ tục chuyển đổi.
- Ngày 27/10/2022, để củng cố thêm niềm tin cho anh Nguyễn Thanh Đ, T nhắn tin qua ứng dụng Zalo thông báo hồ sơ thửa đất của anh Đ đang đợi được các Sếp phê duyệt, T nói với anh Đ hồ sơ liên quan thửa đất anh Đ được T làm việc trực tiếp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q, không thông qua Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ. Trên thực tế, T không có hoạt động hoặc liên hệ gì với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q liên quan chuyển đổi mục đích của thửa đất.
- Lần thứ ba: Ngày 22/11/2022, T đề nghị anh Đức ứ thêm cho T 5.000.000 đồng với lý do để đẩy nhanh việc giải quyết hồ sơ, anh Đ đồng ý và đã chuyển khoản 5.000.000 đồng cho T.
- Lần thứ tư: Ngày 21/12/2022, T giả vờ thông báo cho anh Đ là hồ sơ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất của anh Đ đã xong, đợi giấy báo thuế, rồi đến ngày 24/12/2022 T tiếp tục thông báo cho anh Đ đã có giấy báo thuế và mức tiền thuế phải đóng cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất là 60.625.000 đồng, nhằm mục đích để anh Đức tin t đưa tiền cho T. Đến ngày 26/12/2022, tại nhà anh Đ, T viết 01 giấy giao nhận số tiền 60.625.000 đồng. Trong đó anh Đ đưa cho T 30.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 30.625.000 đồng.
Tuy nhiên, sau khi nhận được toàn bộ số tiền 85.625.000 đồng từ anh Đ, T đã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân và không có khả năng trả lại cho bị hại..
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Thanh Đ yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền bị chiếm đoạt là 85.625.000 đồng; nhưng hiện tại bị cáo chưa bồi thường cho bị hại.
Bản cáo trạng số 19/CT-VKSĐH-KT ngày 06 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 03 năm 06 tháng (Ba năm sáu tháng) tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (06/12/2023).
Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định, ngày 29 tháng 3 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thanh T kháng cáo Bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
- Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới.
- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ gì mới; mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là không nặng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, lời khai của bị cáo, bị hại và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và bản án sơ thẩm đã xét xử. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, số tiền đã chiếm đoạt và các tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2022 đến tháng 5/2023, T sử dụng mạng xã hội facebook dưới tài khoản cá nhân có tên “Nguyễn Thanh T” để đăng tải những thông tin gian dối, bài viết quảng cáo nhận làm hồ sơ thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, trong khi bản thân bị cáo không có chức năng gì trong lĩnh vực này. Sau khi anh Nguyễn Thanh Đ đọc được những thông tin gian dối mà bị cáo đã đăng, nên chủ động liên lạc đặt vấn đề và nhờ Đ làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng sản xuất sang đất thổ cư thì T đồng ý và 04 lần nhận tiền của anh Đ, trong đó mỗi lần đều trên 5.000.000 đồng và tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của anh Đ là 85.625.000 đồng và sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân.
Với thủ đoạn gian dối, đưa thông tin không đúng sự thật và thực hiện 04 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại với tổng số tiền nêu trên của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt thấy rằng:
Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; chưa bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại và hành vi phạm tội bị cáo bị xét xử có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù theo quy định tại điểm c khoản 2 Điêu 174 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ về nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đồng thời đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do có thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và tuyên phạt mức án 03 năm 06 tháng tù là không nặng. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gì mới, cho nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để thỏa mãn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và cần giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu án phí phúc thẩm để sung công quỹ nhà nước.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2024/HS-ST, ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Áp dụng c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 06/12/2023.
- Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thanh T với thời hạn 45 ngày kể từ ngày xét xử phúc thẩm theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử phúc thẩm để đảm bảo thi hành án.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm để sung công quỹ nhà nước.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Trần Trung Thành |
Quyết định số 35/2024/HS-PT ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số quyết định: 35/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Tình; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2024/HS-ST, ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
