Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09-5-2024

V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Khuất Thị Minh Hiền

Bà Nguyễn Thị Thùy

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án Lâm Hà giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Duy Đ, sinh năm 1987
  2. Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

  3. Bị đơn: chị Lê Thị D, sinh năm 1986.
  4. Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Ngân hàng C.
    • Địa chỉ: Tòa nhà C, khu bán đảo L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T. Chức vụ: Tổng giám đốc.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bạch Văn T1. Chức vụ: Giám đốc phòng G huyện L. Theo quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019;

      Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Chắng Khánh Quỳnh L. Chức vụ: phó giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng chính sách huyện G. Theo Quyết định ủy quyền số 111A/QĐ-NHCS ngày 12/9/2023

(Anh Đ có mặt; chị D, bà L có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Duy Đ trình bày: Anh Đ và chị D xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện B, thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật vào ngày 10/02/2011. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Hơn nữa, chị D sống không chung thủy nên mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng hơn. Đến nay, anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không thể cải thiện, anh không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân như hiện nay do mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên anh Đ yêu cầu được ly hôn với chị D.

Về con chung anh Đ xác định quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Anh K, sinh ngày 16/8/2009 và Nguyễn Quang L1, sinh ngày 27/8/2013. Khi ly hôn, anh Đ yêu cầu được nuôi cả hai con và không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, anh Đ xác định vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, anh Đ xác định vợ chồng có nợ vợ chồng anh Nguyễn Văn X, chị Đỗ Thị H, địa chỉ: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng số tiền 200.000.000đ; nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số tiền là 30.000.000đồng. Khi ly hôn, vợ chồng tự thỏa thuận với nhau nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai chị Lê Thị D trình bày: Chị D và anh Đ xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện B, thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật vào ngày 10/02/2011. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong việc quản lý kinh tế cũng như chi tiêu trong gia đình. Hơn nữa, anh Đ còn thường xuyên chửi và đánh đập chị nên mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng hơn. Do không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng nên chị D và anh Đ đã sống ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Nay anh Đ yêu cầu ly hôn thì chị cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung, chị D xác định vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Anh K, sinh ngày 16/8/2009 và Nguyễn Quang L1, sinh ngày 27/8/2013. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Quang L1, sinh ngày 27/8/2013 và giao con chung là Nguyễn Anh K, sinh ngày 16/8/2009 cho anh Đ có trách nhiệm trông nom, chăm sóc, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, chị D xác định vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung, chị D xác định vợ chồng có nợ vợ chồng anh Nguyễn Văn X, chị Đỗ Thị H, địa chỉ: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng số tiền 200.000.000đ. Khi ly hôn, vợ chồng sẽ tự thỏa thuận với vợ chồng anh X, chị H nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng C, do bà Chẳng Khánh Quỳnh L đại diện theo ủy quyền trình bày: Theo hồ sơ vay vốn số 6600000721640486 ngày 17/11/2021, Ngân hàng C – Chi nhánh L2 – Phòng giao dịch huyện L cho anh Nguyễn Duy Đ, chị Lê Thị D vay số tiền gốc là 20.000.000đồng. Khi anh Nguyễn Duy Đ và chị Lê Thị D ly hôn, Ngân hàng C yêu cầu vợ chồng anh Đ và chị D phải trả cho Ngân hàng tổng cộng số tiền là 20.098.631đồng, trong đó nợ gốc là 20.000.000đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay đến ngày 22/02/2024 là 98.631đồng. Đồng thời, yêu cầu anh Nguyễn Duy Đ và chị Lê Thị D tiếp tục chịu lãi phát sinh theo các hợp đồng vay đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị D vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Duy Đ. Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo nguyện vọng của con, giao 02 con chung là Nguyễn Anh K, sinh ngày 16/8/2009 và Nguyễn Quang L1, sinh ngày 27/8/2013 cho anh Nguyễn Duy Đ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục; chị Lê Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, do các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết; về nợ chung, đối với khoản nợ vợ chồng anh Nguyễn Văn X, chị Đỗ Thị H, địa chỉ: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng số tiền 200.000.000đ đề nghị không xem xét do các đương sự không có yêu cầu, trường hợp sau này có tranh chấp thì sẽ xem xét giải quyết sau.

Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C đối với yêu cầu buộc anh Nguyễn Duy Đ và chị Lê Thị D phải trả cho Ngân hàng khoản nợ 20.000.000đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay.

Về án phí: buộc anh Đ phải chịu tiền án phí hôn nhân về việc ly hôn và án phí dân sự sơ thẩm; chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc trả nợ cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Bị đơn chị Lê Thị D; Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng C là bà Chắng Khánh Quỳnh L vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt bị đơn chị D và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng C là hoàn toàn phù hợp.
  2. Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Duy Đ và chị Lê Thị D xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện B, thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật vào ngày 10/02/2011. Cuộc sống chung của vợ chồng không được hòa thuận hạnh phúc nên anh Đ làm đơn xin ly hôn. Xét thấy, vợ chồng anh Đ, chị D phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không thống nhất và không tin tưởng nhau trong tình cảm vợ chồng cũng như việc phát triển kinh tế gia đình nên thường hay cãi nhau. Trong lúc nóng giận không kiềm chế đôi bên đã có những lời nói thiếu tế nhị xúc phạm nhau và có khi xảy ra xô sát khiến cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Do không tìm được biện pháp cải thiện nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Mặc dù thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không thể cải thiện được do mâu thuẫn kéo dài, vợ chồng không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do đó nếu cứ tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên đương sự do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của anh Đ, xử cho anh Đ được ly hôn với chị D.
  3. Về con chung: anh Nguyễn Duy Đ và chị Lê Thị D có hai con chung là Nguyễn Anh K, sinh ngày 16/8/2009 và Nguyễn Quang L1, sinh ngày 27/8/2013. Khi ly hôn, anh Đ yêu cầu được nuôi dưỡng cả hai con chung, còn chị D yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng 01 con chung và giao 01 con chung cho anh Đ có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, trong thời gian vợ chồng sống ly thân thì các con vẫn được anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Hơn nữa, cả hai cháu hiện nay đã trên 07 tuổi và đều có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ không chung sống với nhau. Mặt khác, qua xác minh thực tế tại địa phương thì được biết chị D đã đi nơi khác sống và hiện tại chị D cũng không xuất trình các tài liệu, chứng cứ để chứng minh điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện sinh hoạt học tập ổn định của hai con chung, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao 02 con chung là Nguyễn Anh K, sinh ngày 16/8/2009 và Nguyễn Quang L1, sinh ngày 27/8/2013 cho anh Nguyễn Duy Đ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Sau này chị D ổn định cuộc sống và có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác. Về việc cấp dưỡng nuôi con, do anh Đ không yêu cầu nên không xem xét.
  4. Về tài sản chung: anh Đ và chị D đều xác định tự thỏa thuận và không yêu cầu gì nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.
  5. Về nợ chung: anh Đ và chị D cùng xác định, quá trình chung sống có nợ vợ chồng anh Nguyễn Văn X, chị Đỗ Thị H, địa chỉ: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng số tiền 200.000.000đ. Khi ly hôn anh Đ và chị D cùng xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Riêng số nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện C thì anh Đ cho rằng có nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số tiền là 30.000.000đồng và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, nếu Ngân hàng chính sách xã hội huyện C yêu cầu anh và chị D phải trả nợ cho Ngân hàng thì anh đề nghị Tòa án giải quyết buộc mỗi người phải trả ½ số nợ cho Ngân hàng và chịu lãi suất phát sinh theo quy định. Còn tại bản tự khai chị D không ghi khoản nợ của Ngân hàng nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị D cũng không có ý kiến gì đối với số nợ Ngân hàng C huyện L.
  6. Xét thấy, đối với khoản nợ vợ chồng anh Nguyễn Văn X, chị Đỗ Thị H, địa chỉ: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng số tiền 200.000.000đ thì quá trình Tòa án giải quyết vụ án vợ chồng anh Nguyễn Văn X, chị Đỗ Thị H đề nghị để các bên tự thỏa thuận giải quyết với nhau và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Nếu sau này anh Đ, chị D vi phạm nghĩa vụ trả nợ, các bên phát sinh tranh chấp và có yêu cầu khởi kiện thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
  7. Đối với khoản nợ của Ngân hàng C, phòng giao dịch huyện L yêu cầu anh Đ và chị D phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 20.000.000đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay đến ngày 22/02/2024 là 98.631đồng và nợ lãi phát sinh kể từ ngày 23/02/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc cho Ngân hàng. Xét thấy, số nợ mà anh Đ và chị D vay của Ngân hàng thì ngày 17/11/2021 anh Đăng ký hồ sơ vay của Ngân hàng số tiền 20.000.000đồng, lãi suất là 9%/1 năm, lãi suất nợ quá hạn là 11,7% năm, mục đích vay là xây nhà vệ sinh, đào giếng, hạn trả nợ gốc định kỳ 06 tháng, mỗi kỳ trả 2.000.000đồng, hạn trả cuối cùng là ngày 17/11/2026; thời hạn vay là 60 tháng. Số tiền vay này là vay để sử dụng vào mục đích của gia đình và khoản vay này được xác định là nợ chung của anh Đ và chị D trong thời kỳ hôn nhân. Nay anh Đ, chị D ly hôn sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ chung cũng như khó khăn trong thu hồi vốn của Ngân hàng. Do vậy, Ngân hàng C yêu cầu anh Đ và chị D phải trả cho Ngân hàng nợ gốc là 20.000.000đồng và tiền lãi vay đến ngày 22/02/2024 là 98.631đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 23/02/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc cho Ngân hàng là có cơ sở. Vì vậy, cần buộc anh Đ và chị D mỗi người phải trả cho Ngân hàng C số tiền nợ gốc là 10.000.000đ cùng với lãi phát sinh theo hồ sơ vay vốn số 6600000721640486 ngày 17/11/2021 tương ứng với nợ gốc mỗi bên phải trả cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.
  8. Về án phí: anh Đ phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn và 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị D phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; các Điều 27, Điều 30 và Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 90, 91 Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.;

Xử:

  1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Duy Đ, xử cho anh Nguyễn Duy Đ và chị Lê Thị D được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cả hai con chung là Nguyễn Anh K, sinh ngày 16/8/2009 và Nguyễn Quang L1, sinh ngày 27/8/2013 cho anh Nguyễn Duy Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Chị Lê Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

  3. Về nợ chung: Buộc anh Nguyễn Duy Đ và chị Lê Thị D mỗi người phải trả cho Ngân hàng C số tiền nợ gốc 10.000.000đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay đến ngày 22/02/2024 là 49.315đồng; đồng thời, buộc anh Đ và chị D phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 23/02/2024 theo hồ sơ vay thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số 6600000721640486 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng C.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Duy Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn và 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Tổng số tiền án phí sơ thẩm anh Đ phải chịu là 600.000đồng. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Đ đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004431 ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Anh Đ còn phải nộp 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Chị Lê Thị D phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (09/5/2024); riêng đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - THA dân sự huyện Lâm Hà;
  • - Ban tư pháp nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Như Quỳnh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Khuất Thị Minh Hiền

Nguyễn Thị Thùy

Nguyễn Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số quyết định: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án ly hôn giữa anh Nguyễn Duy Đ với chị Lê Thị D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger