Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-PT

Ngày: 03-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.
Ông Phạm Minh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 tháng 11 năm 2024 và ngày 03 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 249/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Võ Thị Thanh T và Phan Chí L. Do có kháng cáo của bị cáo Võ Thị Thanh T và các bị hại Nguyễn Thị Bích T1 và Nguyễn Thị Bích V đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2024/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng.

- Bị cáo có kháng cáo: Võ Thị Thanh T, sinh ngày 01-01-1976 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn B, không xác định năm sinh (chết) và con bà Ngô Thị K, không xác định được năm sinh (chết); có chồng Phan Chí L, sinh năm 1976; có 02 người con: Lớn sinh năm 2004 và nhỏ sinh năm 2010; có 07 anh chị em; bị cáo là con thứ bảy trong gia đình; tiền sự: Không; tiền án: Không; tạm giữ: Không; tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị cáo bị kháng cáo: Phan Chí L, sinh ngày 28-02-1976 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi thường trú: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nơi ở hiện nay: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn M, không xác định năm sinh (chết) và con bà Nguyễn Thị T2, không xác định được năm sinh (chết); có vợ Võ Thị Thanh T, sinh năm 1976; có 02 người con: Lớn sinh năm 2004 và nhỏ sinh năm 2010; có 03 anh chị em; bị cáo là con thứ ba trong gia đình; tiền sự: Không; tiền án: Không; tạm giữ: Không; tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1996 (có mặt).
  2. Nguyễn Thị Bích V, sinh năn 2001 (có mặt).

Cùng cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, Đồng Tháp.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1965 (vắng mặt).
    Cư trú: Khóm B, thị Trấn C, huyện C, tỉnh An Giang.
  2. Phan Thị Mỹ T3, sinh năm 1974 (có mặt).
    Cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  3. Võ Thị P, sinh năm 1981 (có mặt).
    Cư trú: Số A, đường Đ, phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
  4. Trần Thị Út E, sinh năm 1964 (vắng mặt).
  5. Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1987 (vắng mặt).
    Cùng cư trú: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

  1. Phạm Phong P1, sinh năm 1983 (có mặt).
    Cư trú: Khóm B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Lê Quốc V1, sinh năm 1997 (vắng mặt).
    Cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
  3. Hồ Thanh T4, sinh năm 1993 (vắng mặt).
    Cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  4. Nguyễn Minh H, sinh năm 1986 (vắng mặt).
    Cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Trong vụ án có bị cáo Phan Chí L không kháng cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Chí L và Võ Thị Thanh T là vợ chồng, ngụ khóm A, phường A, thành phố H và bà Phan Thị Mỹ T3 (chị ruột Phan Chí L), ngụ ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp có mâu thuẫn với nhau từ trước trong việc lấy hủ tro cốt của bà T2 (mẹ ruột của L, bà T3) về nhà thờ cúng.

Vào khoảng 09 giờ, ngày 23/11/2023, Võ Thị Thanh T và Phan Chí L tổ chức làm đám tang cho ông Võ Văn B (cha ruột T), sau đó chở quan tài ông B đến thị xã T, tỉnh An Giang để mai táng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, người nhà điện thoại cho T và L cho biết là hủ tro cốt bà T2 trên bàn thờ bị bà Phan Thị Mỹ T3 đến lấy mang về nhà ở ấp H, xã T, huyện T. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Võ Thị Thanh T, Phan Chí L, Võ Thị P (em ruột T), Lê Quốc V1 và Phạm Phong P1 đi xe ô tô từ thành phố H đến Công an xã T trình báo sự việc thì được hướng dẫn về nơi xảy ra sự việc trình báo để giải quyết theo quy định. Sau đó, T cho xe ô tô chạy đến nhà bà Phan Thị Mỹ T3 (chị ruột Phan Chí L), ngụ ấp H, xã T, huyện T, lúc này khoảng 15 giờ 31 phút cùng ngày, mục đích để lấy lại hủ tro cốt của bà T2 (mẹ ruột của L và T3). Khi đến T và L đi vào trong nhà của T3 trước, V1 và P1 đi theo phía sau nhưng ở ngoài, còn Võ Thị P cũng ở ngoài xe ô tô. Lúc này, bà T3, ông Nguyễn Thanh L1 và Nguyễn Thị Bích V ngồi tại bàn trước nhà nói chuyện, còn Nguyễn Thị Bích T1 ở trong nhà, khi đến thì L và T yêu cầu bà T3 trả lại hủ tro cốt của bà T2 nên bà T3 không đồng ý, do đó V và T xảy ra cự cải đánh nhau bằng tay, trong lúc hai bên đánh nhau thì Nguyễn Thị Bích T1 từ trong nhà chạy ra cầm nón bảo hiểm màu đen đánh T nhưng được L dơ tay đỡ và L dùng tay đánh nhiều cái trúng vào người của T1, cùng lúc này V với T câu đánh nhau qua lại bằng tay thì được anh P1 can ngăn, do thấy T1 bị đánh nên bà T3 chạy vào nhà lấy 01 con dao màu trắng cầm tay phải và 01 cây kéo cầm tay trái chạy ra định chém gây thương tích cho phía bên T và L thì được ông L1 giật lấy con dao và cây kéo lại, làm bàn tay trái ông L1 bị thương tích. Khi thấy T bị đánh thì Võ Thị P chạy lại cái chậu cây có hai con dao nên lấy 02 con dao (không xác định của ai) cầm trên hai tay, mục đích để phòng thân và can ngăn nhưng không gây thương tích cho ai hết, liền lúc đó thì P bị T1 giật té ngã xuống đất và bị T1 và V đánh bằng tay, Bích V thì dùng cây chổi lông cọ cán bằng mũ đánh T và được mọi người xung quanh can ra. Lúc này T chạy đến dùng tay đánh, cào cấu trúng vào mặt, vào người của T1 và xô xác với T1 té ngã vào hàng rào bị gây thương tích thì được anh Hồ Thành T5 và anh Nguyễn Minh H can ngăn. Hậu quả: T1, V bị thương tích ở vùng mặt; ông L1 bị thương tích ở tay trái. Sau đó gia đình đưa T1, V và ông L1 đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ điều trị, đến ngày 27/11/2023 thì ra viện. Riêng đối với T và P bị thương tích trầy xướt ở 02 đầu gối không có nhập Viện điều trị.

Vật chứng của vụ án thu giữ:

  • - 01 cái nón bảo hiểm màu đen, có chữ Helmet.
  • - 01 con dao cán bằng sắt, màu trắng, dài 31cm, lưỡi dao dài 20cm.
  • - 01 con dao Thái Lan, cán bằng nhựa, màu vàng, dài 21cm, lưỡi dao dài 11cm, mũi nhọn.
  • - 01 con dao cán bằng nhựa, màu đen, dài 21cm, lưỡi dao dài 11cm, mũi nhọn bị gãy; 01 cây kéo bằng sắt, màu trắng, dài 22cm, lưỡi kéo sắt nhọn, dài 11cm.
  • - 01 cây chổi lông cọ, cán hình trụ màu đỏ, đường kính 2cm, có chữ P đã bị gãy. (Tất cả đã qua sử dụng).
  • - 04 đĩa DVD, lưu vào hồ sơ vụ án.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số:033/KLTTCT-TTPYĐT, ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Đ kết luận Nguyễn Thị Bích T1:

1. Kết luận:

  • - 03 sẹo vết thương phần mềm vùng thái dương phải-má phải, má trái, kích thước nhỏ, mỗi sẹo 03%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài 1/3 dưới cánh tay phải, kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương 02%.
  • - 03 sẹo vết thương phần mềm vùng mặt sau khuỷ tay phải, thái dương- chẩm phải, mặt ngoài 1/3 dưới cẳng tay phải, kích thước nhỏ, mỗi sẹo 01%.
  • - 06 vết biến đổi sắc tố da vùng gò má phải, mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải, mặt trước 1/3 dưới đùi trái, da mặt trong 1/3 dưới đùi trái, mỗi sẹo 0,5%.

Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể của Nguyễn Thị Bích T1 tại thời điểm giám định là 16%.

2. Kết luận khác:

  • - Sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài 1/3 dưới cẳng tay phải do vật sắc nhọn gây ra.
  • - Các tổn thương còn lại do vật tày gây ra.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 032/KLTTCT- TTPYĐT, ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Đ kết luận Nguyễn Thị Bích V:

1. Kết luận:

  • - 07 vết biền đổi sắc tố da vùng trên cung mày trái, má trái, sống mũi, má phải, mặt trước 1/3 dưới đùi phải, mặt trước 1/3 giữa cẳng chân phải, mỗi sẹo 0,5%.
  • - 02 sẹo vết thương phần mềm má phải, kích thước nhỏ, mỗi sẹo 03%.
  • - Gãy xương chính mũi không ảnh hưởng đến chức năng thở, tỷ lệ tổn thương 07%.

Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể của Nguyễn Thị Bích V tại thời điểm giám định là 16%.

2. Kết luận khác: Các tổn thương trên do vật tày gây ra.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 038/KLTTCT- TTPYĐT, ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Đ kết luận Nguyễn Thanh L1:

1. Kết luận:

  • - Sẹo vết thương phần mềm khớp liên đốt bàn ngón II bàn tay trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 01%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm khớp liên đốt giữa- đốt gần ngón II bàn tay trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 01%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài 1/3 trên cẳng tay phải, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 01%.

Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể của Nguyễn Thanh L1 tại thời điểm giám định là 03%.

2. Kết luận khác:

  • - 02 sẹo vết thương phần mềm ngón II tay trái do vật sắc gây ra.
  • - Sẹo vết thương mặt ngoài 1/3 trên cẳng tay phải do vật tày gây ra.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 159/KLTTCT- TTPYĐT, ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Đ kết luận Võ Thị Thanh T:

1. Kết luận:

  • - Vùng trán trái, má trái, cổ, ngực hiện không thấy dấu vết thương, không cho tỷ lệ phần trăm.
  • - 02 vết biến đổi sắc tố da vùng gối trái, gối phải, mỗi vết 01%.

Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể của Võ Thị Thanh T tại thời điểm giám định là 02%.

2. Kết luận khác: Các tổn thương trên do vật tày gây ra.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 160/KLTTCT- TTPYĐT, ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Đ kết luận Võ Thị P:

1. Kết luận:

  • - Vùng trán phải, đầu hiện không thấy dấu vết thương, không cho tỷ lệ phần trăm.
  • - Sẹo vết thương phần mềm gối phải, kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương 02%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm gối trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 01%.

Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể của Võ Thị P tại thời điểm giám định là 03%.

2. Kết luận khác: Các tổn thương trên do vật tày gây ra.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2024/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 58; Điều 17; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Võ Thị Thanh T đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Võ Thị Thanh T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 134; Điều 38; Điều 58; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phan Chí L đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Phan Chí L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày án sơ thẩm tuyên ngày 12-8-2024.

Giao bị cáo Phan Chí L cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo Phan Chí L vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật dân sự.

Chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại Nguyễn Thị Bích T1, buộc bị cáo Võ Thị Thanh T và bị cáo Phan Chí L liên đới bồi thường cho Nguyễn Thị Bích T1 tổng số tiền là 85.797.000 đồng, các khoản chi phí gồm: Tiền xe đi và về nhiều lần 7.500.000 đồng, tiền viện phí tại trung tâm Y tế huyện T và tại Bệnh viện Đ là 2.193.918 đồng, tiền ngày công lao động bị mất của người bệnh chấp nhận 01 tháng lương là 10.000.000 đồng, tiền tổn thất về tinh thần chấp nhận 25 tháng lương cơ sở là 58.500.000 đồng, tiền thẩm mỹ 5.604.000 đồng, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh 2.000.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 10.000.000 đồng của bị cáo T (theo biên lai thu số 0000257 ngày 04-5-2024) và 5.000.000 đồng của bị cáo L (theo biên lai thu tiền số 0000312 ngày 21-5-2024) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hồng.

Chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại Nguyễn Thị Bích V, buộc bị cáo Võ Thị Thanh T bồi thường cho Nguyễn Thị Bích V tổng số tiền là 85.355.000 đồng, các khoản chi phí gồm: Tiền xe đi và về nhiều lần 7.500.000 đồng, tiền viện phí tại trung tâm Y tế huyện T và tại Bệnh viện Đ là 1.345.428 đồng, tiền ngày công lao động bị mất của người bệnh chấp nhận 01 tháng lương là 11.000.000 đồng, tiền tổn thất về tinh thần chấp nhận 25 tháng lương cơ sở là 58.500.000 đồng, tiền thẩm mỹ 5.010.000 đồng, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh 2.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, bị cáo Võ Thị Thanh T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; ngày 05 và 06 tháng 11 năm 2024, bị cáo Võ Thị Thanh T có đơn kháng cáo bổ sung với nội dung xin được hưởng án treo và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại việc áp dụng tỷ lệ thương tật 16% do bị cáo gây ra đối với Nguyễn Thị Bích T1. Ngày 02 tháng 12 năm 2024, bị cáo Võ Thị Thanh T có đơn kháng cáo bổ sung với nội dung xem xét cho bị cáo được tại ngoại để điều trị bệnh.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, bị hại Nguyễn Thị Bích T1 có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Võ Thị Thanh T, tăng hình phạt đối với bị cáo Phan Chí L, không đồng ý cho bị cáo Phan Chí L hưởng án treo và yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại về tiền ngày công lao động bị mất là 10 tháng lương x 10.000.000 đồng là 100.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ sở là 90.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Thị Bích V kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Võ Thị Thanh T và yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại về tiền ngày công lao động bị mất là 10 tháng lương x 11.000.000 đồng là 110.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ sở là 90.000.000 đồng và tiền đi phẫu thuật sóng mũi là 50.000.000 đồng.

Đồng thời, qua các văn bản trình bày ý kiến bổ sung cũng như tại phiên toà phúc thẩm, các bị hại Bích T1 và Bích V yêu cầu khởi tố các anh Lê Quốc V1, Phạm Phong P1 và chị Võ Thị P vì có hành vi đồng phạm với các bị cáo gây thương tích cho các bị hại.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thị Thanh T thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo chỉ kháng cáo yêu cầu xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Bị hại Nguyễn Thị Bích V rút một phần kháng cáo ở khoản tiền đi phẫu thuật sóng mũi là 50.000.000 đồng do bị hại chưa đi phẫu thuật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Võ Thị Thanh T bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm b khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự và Phan Chí L bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Võ Thị Thanh T kháng cáo xin được hưởng án treo và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại việc áp dụng tỷ lệ thương tật 16% do bị cáo gây ra đối với Nguyễn Thị Bích T1. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Thị Thanh T thay đổi nội dung kháng cáo chỉ yêu cầu xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo với lý do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo đang mang bệnh, chồng bị cáo là bị cáo Phan Chí L sức khỏe bị suy kiệt nên không lao động làm ra tiền để nuôi gia đình; bị cáo đã khắc phục thêm cho các bị hại 2.500.000 triệu đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà án sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị Thanh T, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Võ Thị Thanh T.

Đối với kháng cáo bị hại Nguyễn Thị Bích T1 có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Võ Thị Thanh T, tăng hình phạt đối với bị cáo Phan Chí L, không đồng ý cho bị cáo Phan Chí L hưởng án treo và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tiền ngày công lao động bị mất là 10 tháng lương x 10.000.000 đồng là 100.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ sở là 90.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Thị Bích V kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Võ Thị Thanh T và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tiền ngày công lao động bị mất là 10 tháng lương x 11.000.000 đồng là 110.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ sở là 90.000.000 đồng và yêu cầu khởi tố các anh Lê Quốc V1, Phạm Phong P1 và chị Võ Thị P vì có hành vi đồng phạm với các bị cáo gây thương tích cho các bị hại nhưng các bị hại không cung cấp thêm được tình tiết nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị hại Nguyễn Thị Bích T1 và Nguyễn Thị Bích V, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt và phần trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo.

Bị cáo Võ Thị Thanh T và Phan Chí L và các bị hại không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Thị Thanh T và Phan Chí L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Vào ngày 23-11-2023, do có mâu thuẫn với nhau từ trước trong việc lấy hủ tro cốt của bà T2 (mẹ ruột của bị cáo Phan Chí L và bà Phan Thị Mỹ T3) về nhà thờ cúng nên bị cáo Võ Thị Thanh T có hành vi dùng tay đánh và cào vào mặt bị hại Nguyễn Thị Bích V với tỷ lệ thương tật là 16% và có hành vi cùng với bị cáo L gây thương tích cho bị hại Nguyễn Thị Bích T1, cụ thể bị cáo T có hành vi dùng tay đánh và cào vào mặt và xô bị hại T1 té ngã vào hàng rào gây thương tích, còn bị cáo L có hành vi dùng tay đánh nhiều cái vào người bị hại T1 gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 16%

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Võ Thị Thanh T và Phan Chí L là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Các bị cáo là người đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà các bị cáo đã dùng tay gây thương tích cho các bị hại. Các bị cáo nhận thức được nhận thức được việc dùng tay tác động vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho mỗi bị hại bị thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 16%, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Võ Thị Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự và xét xử bị cáo Phan Chí L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo Võ Thị Thanh T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, có cung cấp tình tiết mới là gia đình bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo đang mang bệnh, chồng bị cáo là bị cáo Phan Chí L sức khỏe bị suy kiệt nên không lao động làm ra tiền để nuôi gia đình; bị cáo đã khắc phục thêm cho các bị hại 2.500.000 triệu đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà án sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đã có xem xét và áp dụng mức hình phạt đầu khung đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Võ Thị Thanh T, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Võ Thị Thanh T.

Đối với kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị Bích T1 yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Võ Thị Thanh T, tăng hình phạt đối với bị cáo Phan Chí L, không đồng ý cho bị cáo Phan Chí L hưởng án treo và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tiền ngày công lao động bị mất là 10 tháng lương x 10.000.000 đồng là 100.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ sở là 90.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Thị Bích V kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Võ Thị Thanh T và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tiền ngày công lao động bị mất là 10 tháng lương x 11.000.000 đồng là 110.000.000 đồng nhưng các bị hại cũng không cung cấp thêm được tình tiết nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Ngoài ra, các bị hại yêu cầu khởi tố các anh Lê Quốc V1, Phạm Phong P1 và chị Võ Thị P vì có hành vi đồng phạm với các bị cáo gây thương tích cho các bị hại. Xét thấy, các anh Lê Quốc V1, Phạm Phong P1 và chị Võ Thị P có đi cùng các bị cáo T, L đến hiện trường nhưng các anh V1, P1 không có tham gia đánh ai mà chỉ can ngăn, còn chị P có cầm dao nhưng không có gây thương tích cho ai. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị Bích V và Nguyễn Thị Bích T1, giữ nguyên phần quyết định của án sơ thẩm.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối vụ án là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của bị cáo Võ Thị Thanh T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Võ Thị Thanh T.

Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt, tăng tiền bồi thường đối với các bị cáo Võ Thị Thanh T, Phan Chí L và yêu cầu khởi tố Lê Quốc V1, Phạm Phong P1, Võ Thị P của các bị hại Nguyễn Thị Bích T1 và Nguyễn Thị Bích V.

Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm.

2. Tuyên bố bị cáo Võ Thị Thanh T và Phan Chí L cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 58; Điều 17; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Thị Thanh T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 134; Điều 38; Điều 58; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Chí L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày án sơ thẩm tuyên ngày 12-8-2024.

Giao bị cáo Phan Chí L cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo Phan Chí L vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật dân sự.

Chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại Nguyễn Thị Bích T1, buộc bị cáo Võ Thị Thanh T và bị cáo Phan Chí L liên đới bồi thường cho Nguyễn Thị Bích T1 tổng số tiền là 85.797.000 đồng, các khoản chi phí gồm: Tiền xe đi và về nhiều lần 7.500.000 đồng, tiền viện phí tại trung tâm Y tế huyện T và tại Bệnh viện Đ là 2.193.918 đồng, tiền ngày công lao động bị mất của người bệnh chấp nhận 01 tháng lương là 10.000.000 đồng, tiền tổn thất về tinh thần chấp nhận 25 tháng lương cơ sở là 58.500.000 đồng, tiền thẩm mỹ 5.604.000 đồng, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh 2.000.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 5.000.000 đồng của bị cáo T (theo biên lai thu số 0000257 ngày 04-5-2024) và 5.000.000 đồng của bị cáo L (theo biên lai thu tiền số 0000312 ngày 21-5-2024) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hồng.

Chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại Nguyễn Thị Bích V, buộc bị cáo Võ Thị Thanh T bồi thường cho Nguyễn Thị Bích V tổng số tiền là 85.355.000 đồng, các khoản chi phí gồm: Tiền xe đi và về nhiều lần 7.500.000 đồng, tiền viện phí tại trung tâm Y tế huyện T và tại Bệnh viện Đ là 1.345.428 đồng, tiền ngày công lao động bị mất của người bệnh chấp nhận 01 tháng lương là 11.000.000 đồng, tiền tổn thất về tinh thần chấp nhận 25 tháng lương cơ sở là 58.500.000 đồng, tiền thẩm mỹ 5.010.000 đồng, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh 2.000.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 5.000.000 đồng của bị cáo T (theo biên lai thu số 0000257 ngày 04-5-2024) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hồng.

Đồng thời, các bị cáo Võ Thị Thanh T và Phan Chí L được trừ đi số tiền 5.000.000 đồng (theo biên lai thu số 0000319 ngày 28/11/2024) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo Võ Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Bị hại Nguyễn Thị Bích T1 và Nguyễn Thị Bích V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Tân Hồng (04);
  • - VKSND huyện Tân Hồng;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hồng;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Tân Hồng;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Tân Hồng;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu VT, HSVA (4) (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 34/2025/HS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số quyết định: 34/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger