TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13-3-2025
V/v: “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Đạt
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Chung
2. Ông Trương Tha
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 728/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H – sinh năm 1991 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Lê Anh T – sinh năm 1992 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Cùng nơi cư trú: TDP P, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Anh T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa vào năm 2015. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Bản thân bà đã cố gắng bỏ qua để vợ chồng hòa giải nhưng không được. Bà và ông T đã sống ly thân từ tháng 06/2024 cho đến nay. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà và ông T có 01(một) con chung là Lê Bảo T1 – sinh ngày 14/10/2016. Sau khi ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn H1 có ý kiến trình bày qua bản tự khai:
Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý với lời trình bày của bà Huỳnh Thị H về thời điểm và nơi đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng không trầm trọng nên ông mong muốn được đoàn tụ với bà H. Trường hợp, bà H vẫn giữ nguyên ý kiến thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ông thừa nhận đã sống ly thân với bà H như bà H trình bày.
Về con chung: Ông và bà H có 01(một) con chung là Lê Bảo T1 – sinh ngày 14/10/2016. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H thì ông đồng ý giao con chung cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp:
- - Đơn khởi kiện (bản chính);
- - Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính);
- - Giấy khai sinh con chung (bản sao);
- - CCCD (bản photo) có tên Huỳnh Thị H;
- - Bản tự khai.
Tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp:
- - Bản tự khai.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa phát biểu như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân, bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Lê Anh T; Về con chung, giao con chung là Lê Bảo T1 – sinh ngày 14/10/2016 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, bà H không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về nợ chung, không có nên đề nghị không xem xét. Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí theo đúng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng, quan hệ pháp luật:
[1.1]. Bà Huỳnh Thị H và ông Lê Anh T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Bà Huỳnh Thị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông Lê Anh T, hiện cư trú tại TDP P, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ theo Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị H và ông Lê Anh T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn được UBND phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 57/2015 ngày 16/7/2015. Do đó, hôn nhân giữa bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà H yêu cầu ly hôn ông T vì trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng đã cố gắng hòa giải nhưng không thành. Hiện nay, bà H và ông T đều thừa nhận đã sống ly thân với nhau nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ông T. Ông T thừa nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng không trầm trọng nên ông muốn đoàn tụ. Tuy nhiên, ông T không có động thái muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng để vợ chồng đoàn tụ.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Mục đích của hôn nhân là việc vợ chồng yêu thương nhau, cùng chăm lo cho gia đình và có cuộc sống hạnh phúc nhưng bà H và ông T không còn chung sống vợ chồng với nhau, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trong thời gian dài. Ông T không có hành động níu kéo hạnh phúc vợ chồng. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa bà H và ông T đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sở, phù hợp với căn cứ cho ly hôn tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2]. Về con chung: Bà H và ông T có 01(một) con chung là cháu Lê Bảo T1 – sinh ngày 14/10/2016. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T đồng ý với yêu cầu bà H.
Hội đồng xét xử nhận thấy cần ghi nhận sự tự nguyện giữa các bên, giao con chung cho bà H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3]. Về tài sản chung: Bà H và ông T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
[2.4]. Về nợ chung: Không có nên không xem xét.
[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần ghi nhận.
[4] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006444 ngày 19/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị H được ly hôn ông Lê Anh T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 57/2015 do UBND phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 16/7/2015 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao 01 (một) con chung là cháu Lê Bảo T1 – sinh ngày 14/10/2016 cho bà Huỳnh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ông T được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản và không cấp dưỡng nuôi con chung. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Bà Huỳnh Thị H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006444 ngày 19/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà H đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
- Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊNTÒA Nguyễn Hoàng Đạt |
Quyết định số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung
- Số quyết định: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
