Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Số: 34/2024/QÐST- HC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Phú Thọ, ngày 29 tháng 10 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thu Hằng

Bà Nguyễn Thị Tần.

Căn cứ vào điều 38, điều 39, điểm a khoản 2, khoản 5 điều 116; điểm g khoản 1 Điều 143; điều 144; khoản 2 điều 165, khoản 2 điều 206 của Luật Tố tụng Hành chính. Căn cứ điều 157 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án Hành chính sơ thẩm;

Xét thấy:

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính đã hết theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 của Luật Tố tụng Hành chính; Cụ thể quá trình xét xử vụ án tại phiên tòa xác định được đơn khởi kiện đã hết thời hiệu khởi kiện, cụ thể như sau:

  • - Cụ Lê Thị B (bà T kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng) có diện tích 149 m² đất tại thửa số 688, tờ bản đồ 21, loại đất BHK “Thuộc phường V”; tại Quyết định số 4833/QĐ-UBND ngày 31/5/2011 của UBND thành phố V đã thu hồi diện tích đất của bà để giao cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T4 lập dự án đầu tư xây dựng trụ sở và cơ sở S1 tại phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;
  • - Bà Lê Thị H có diện tích 149 m² đất tại thửa số 688, tờ bản đồ 21, loại đất BHK “Thuộc phường V”; tại Quyết định số 4826/QĐ-UBND ngày 31/5/2011 của UBND thành phố V đã thu hồi diện tích đất của bà để giao cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T4 lập dự án đầu tư xây dựng trụ sở và cơ sở S1 tại phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

Do không nhất trí với các quyết định thu hồi đất nên bà H và bà B cùng 9 hộ dân khác có đất bị thu hồi đã khiếu nại theo quy định của pháp luật;

Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu: Tại Quyết định số 4344/QĐ-UBND ngày 06 tháng 12 năm 2019 của chủ tịch UBND thành phố V đã quyết định không chấp nhận đơn khiếu nại của 11 hộ dân trong đó có bà B bà bà H;

Do không nhất trí với Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 4344/QĐ-UBND ngày 06 tháng 12 năm 2019 của chủ tịch UBND thành phố V nên bà H và bà B và các hộ dân tiếp tục khiếu nại;

Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai: Tại Quyết định số 1460/QĐ-UBND ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Chủ tịch UBND tỉnh P đã quyết định công nhận và giữ nguyên Quyết định số 4344/QĐ-UBND ngày 06 tháng 12 năm 2019 của chủ tịch UBND thành phố V về việc giải quyết khiếu nại của 11 hộ dân do ông P đại diện trong đó có hộ bà B và bà H;

Do không nhất trí quyết định thu hồi đất của UBND thành phố V và các quyết định giải quyết khiếu nại lần 1 và quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 của Chủ tịch UBND thành phố V và Chủ tịch UBND tỉnh P, ngày 29/9/2021 bà H, bà B (bà T) cùng các hộ dân đã khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, Hủy:

  • - Quyết định số 4344/QĐ-UBND ngày 06 tháng 12 năm 2019 (Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu) của Chủ tịch UBND thành phố V
  • - Quyết định số 1460/QĐ-UBND ngày 24 tháng 6 năm 2021 2019 (Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai) của Chủ tịch UBND tỉnh P
  • - Khôi phục trả lại quyền lợi cho người khởi kiện đối với các thửa đất bị thu hồi;

Căn cứ đơn khởi kiện của người khởi kiện, TAND tỉnh Phú Thọ đã thụ lý vụ án Hành chính sơ thẩm số 24/2021/TLST-HC ngày 19/10/2021;

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Hành chính số 6A/2022/QÐST-HC ngày 03/6/2022 đã quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án Hành chính sơ thẩm số 24/2021/TLST-HC ngày 19/10/2021 với lý do người khởi kiện (Người đại diện theo ủy quyền) rút đơn khởi kiện để tự thu thập tài liệu chứng cứ; Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án còn tuyên về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án “Người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định của pháp luật ...”

Ngày 20/11/2023 cụ Lê Thị B do người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của cụ B là bà Trương Thị T và bà Lê Thị H làm đơn khởi kiện vụ án hành chính, đơn khởi kiện ghi ngày 20/11/2023, Tòa án nhận đơn ngày 30/11/2023;

Các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện ngày 20/11/2023:

  • - 01 “Đơn đề nghị về việc thụ lý đơn khởi kiện ghi tên ông Nguyễn Văn P ghi ngày 02/6/2023”; 01 “bảng kê danh sách tài liệu (ghi tên ông Nguyễn Văn P ghi ngày 9/6/2023); 01 (giấy xác nhận nộp hồ sơ ghi tên ông Nguyễn Văn P ghi ngày 28/6/2023)”; 01 đơn đề nghị về việc sao chụp hồ sơ và xin lại tài liệu khởi kiện ghi tên ông Nguyễn Văn P ghi ngày 16/6/2023”; 01 “đơn đề nghị về việc xin miễn nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ghi tên ông Nguyễn Văn P ghi ngày 20/6/2022 và các tài liệu chứng cứ khác.

Nội dung đơn khởi kiện những người khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, Hủy:

  • - Quyết định số 4344/QĐ-UBND ngày 06 tháng 12 năm 2019 (Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu) của Chủ tịch UBND thành phố V
  • - Quyết định số 1460/QĐ-UBND ngày 24 tháng 6 năm 2021 (Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai) của Chủ tịch UBND tỉnh P
  • - Khôi phục trả lại quyền lợi cho người khởi kiện đối với các thửa đất bị thu hồi;

Căn cứ đơn khởi kiện của đương sự ghi ngày 20/11/2023, nộp tại Tòa án ngày 30/11/2023, TAND tỉnh Phú Thọ đã thụ lý vụ án Hành chính sơ thẩm số 48/2023/TLST-HC ngày 19/12/2023;

Ngày 13/9/2024 người đại diện theo ủy quyền của bà T và bà H là ông Nguyễn Văn P bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, Hủy:

  • - Quyết định số 4833/QĐ-UBND ngày 31/5/2011 của UBND thành phố V về việc thu hồi đất đối với bà B; Quyết định số 4826/QĐ-UBND ngày 31/5/2011 của UBND thành phố V về việc thu hồi đất đối với bà H và không yêu cầu Tòa án khôi phục quyền lợi cho người khởi kiện đối với diện tích đất bị thu hồi;

Như vậy tính từ ngày Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 6A/2022/QĐST-HC ngày 03/6/2022 và tuyên hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án, người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định của pháp luật; Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 6A/2022/QĐST-HC ngày 03/6/2022 có hiệu lực kể ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, tính đến ngày 30/11/2023 là ngày người khởi kiện (Người đại diện) nộp đơn khởi kiện tại Tòa án là đã trên một năm (Vi phạm điểm a khoản 2 điều 116 Luật Tố tụng Hành chính) mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác nên đã hết thời hiệu khởi kiện.

Mặc dù kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện đã nộp các tài liệu như : Đơn đề nghị về việc thụ lý đơn khởi kiện ghi ngày 02/6/2023"; bảng kê danh sách tài liệu ghi ngày 9/6/2023; giấy xác nhận nộp hồ sơ ghi ngày 28/6/2023; đơn đề nghị về việc sao chụp hồ sơ và xin lại tài liệu khởi kiện ghi ngày 16/6/2023; đơn đề nghị về việc xin miễn nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ghi ngày 20/6/2022, nhưng tất cả các tài liệu này đều được nộp kèm theo đơn khởi kiện là ngày 30/11/2023 nên được xác định không có tài liệu nào được nộp trong thời hiệu khởi kiện mặc dù ngày tháng năm của các tài liệu được người khởi kiện (Người đại diện) ghi trong tài liệu là trước ngày nộp đơn khởi kiện; người đại diện cho người khởi kiện còn tự ý lập biên bản nộp hồ sơ tại một cửa Tòa án tỉnh, trong biên bản có các danh mục giấy tờ nhưng không có ai đại diện Tòa án trực tiếp nhận tài liệu theo biên bản đó (hoặc nhận tài liệu theo dấu bưu điện) mà chỉ có người kê danh sách là ông Nguyễn Văn P ký và ghi tên; tương tư như vậy người đại diện cho người khởi kiện còn tự ý lập biên bản với tiêu đề “Giấy xác nhận nộp hồ sơ” nhưng không có ai đại diện Tòa án xác nhận mà chỉ có ông Nguyễn Văn P tự lập biên bản và tự ghi người xác nhận ký và ghi tên Nguyễn Văn P.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án Hành chính người bị kiện không thừa nhận bất kỳ nghĩa vụ nào với người khởi kiện và có quan điểm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện và các bên không tự hòa giải với nhau.

Ngoài những tài liệu kèm theo đơn khởi kiện đã nộp tại Tòa án ngày 30/11/2023, tại phiên tòa ông Nguyễn Văn P đại diện theo ủy quyền của những người khởi kiện cũng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào để chứng minh là người khởi kiện hoặc người đại diện của người khởi kiện đã nộp đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện cho Tòa án còn trong thời hiệu khởi kiện;

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã chấp hành đúng quy định của Luật Tố tụng Hành chính.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 38, điều 39, điểm a khoản 2, khoản 5 điều 116; điểm g khoản 1 Điều 143; điều 144, khoản 2 điều 165, khoản 2 điều 206 của Luật Tố tụng Hành chính. Căn cứ điều 157 Bộ luật Dân sự; đình chỉ giải quyết vụ án Hành chính thụ lý số 48/2023/TLST- HC ngày 19 tháng 12 năm 2023; Về án phí Hành chính sơ thẩm: Miễn toàn bộ cho bà T và bà H;

Vì các lẽ trên; Hội đồng xét xử:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Đình chỉ giải quyết vụ án Hành chính thụ lý số 48/2023/TLST- HC ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc Khiếu kiện quyết định hành chính, giữa:
    • - Người khởi kiện:
    • + Bà Trương Thị T, sinh năm 1942; Địa chỉ: Khu F, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;
    • + Bà Lê Thị H, sinh năm 1958; Địa chỉ: Khu F, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;
    • Người đại diện theo ủy quyền của bà T, bà H: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1955; Địa chỉ: Khu A, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
    • - Người bị kiện:
    • + Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P;
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Văn Q - Chức vụ: Chủ tịch UBND tỉnh P;
    • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Trọng T1 - Chức vụ: Phó chủ tịch UBND tỉnh P.
    • + Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
    • + Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc S - chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
    • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu N - Chức vụ: Phó chủ tịch UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
    • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
    • + Bà Trương Thị Thu T2, sinh năm 1944 (Là con cụ B);
    • + Bà Trương Thị T3, sinh năm 1949 (Là con cụ B);
    • + Anh Đào Văn M, sinh năm 1989 (Là con bà T);
    • + Chị Đào Thị Thu H1, sinh năm 1985 (Là con bà T);
    • Địa chỉ: Đ trú tại phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
    • Người đại diện theo ủy quyền của bà T2, bà T3, anh M, chị H1: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1955; Địa chỉ: Khu A, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
    • + Ủy ban nhân dân phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
    • Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Bích L - chức vụ: Chủ tịch UBND phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
    • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Văn H2 - Chức vụ: Phó chủ tịch UBND phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
  2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:
    • - Người khởi kiện không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó, nếu việc khởi kiện này không có gì khác với vụ án đã bị đình chỉ về người khởi kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
    • - Người khởi kiện được nhận lại đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ nếu có yêu cầu.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 3 Điều 18; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Bà Trương Thị T và bà Lê Thị H được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm.

  4. Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này hoặc kể từ ngày quyết định này được niêm yết công khai theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Bùi Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 34/2024/QÐST- HC ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về khiếu kiện quyết định hành chính

  • Số quyết định: 34/2024/QÐST- HC
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QĐ ĐC giải quyết T -H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger