Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ÂN THI

TỈNH HƯNG YÊN

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 33/2025/QÐST-HNGĐ

Ân Thi, ngày 10 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“V/v xác định cha cho con”

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Tiến Lũng.
  • - Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi tham gia phiên họp: Ông Đỗ Văn Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 10/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 41/2025/TLST-HNGĐ ngày 14/5/2025, về việc “Xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm số: 36/2025/QÐST-HNGĐ ngày 27/5/2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

  • * Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
  • - Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 2002; (Vắng mặt)
  • - Anh Nguyễn Thành H, sinh năm 2002. (Vắng mặt)
  • * Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • - Ông Trần Thanh B, sinh năm 1956; (đã chết)
  • - Ông Trần Văn C, sinh năm 1967; (là em trai ruột của ông B) (Vắng mặt)
  • - Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1974; (Vắng mặt)
  • - Bà Đặng Thị N, sinh năm 1959. (Vắng mặt)

Đều cư trú tại: thôn N, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu và các tài liệu có trong hồ sơ các anh Nguyễn Thành T và anh Nguyễn Thành H thống nhất trình bày: Sau này lớn lên các anh được mẹ kể lại là mẹ các anh là bà Nguyễn Thị Thanh T1 và ông Trần Thanh B là hai người cùng địa phương tự quen biết nhau vào năm 2001 lúc mẹ các anh quen và đi lại với ông B. Trong quá trình đi lại thì giữa mẹ các anh và ông B có phát sinh quan hệ tình cảm nam nữ và đã mang thai với ông B, đến ngày 11/11/2002 mẹ các anh sinh đôi được hai anh em các anh tại Trạm y tế xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên và được đặt tên là Nguyễn Thành T và Nguyễn Thành H có đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Tuy nhiên do các anh được sinh đôi ra nhưng vì cha mẹ không có đăng ký kết hôn nên trong giấy khai sinh của các anh không được ghi tên cha. Sau khi mẹ các anh sinh đôi được ra hai anh em các anh thì mới biết quan hệ hôn nhân của ông B và bà N vẫn đang tồn tại. Đến năm 2018 ông B làm thủ tục ly hôn với bà N tại Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên (theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 44/2018/QĐST- HNGĐ ngày 19/4/2018) của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Sau khi ông B và bà N ly hôn thì bà T1 mẹ các anh với ông B cũng không tiến hành đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Ngày 25/9/2020 ông B và các anh đã đi xét nghiệm ADN tại Công ty TNHH C2 và xét nghiệm y học Bệnh viện Đ số 42 N, quận B, thành phố Hà Nội. Theo kết quả xét nghiệm ADN theo mẫu ADN ký hiệu HID2009094-1 và mẫu ADN ký hiệu HID2009094-2 anh Nguyễn Thành T và ông Trần Thanh B có quan hệ huyết thống là C1 con và theo kết quả xét nghiệm ADN theo mẫu ADN ký hiệu HID 2009094-1 và mẫu ADN ký hiệu HID2009094-3 anh Nguyễn Thành H và ông Trần Thanh B có quan hệ huyết thống là C1 - con. Do hai kết quả xét nghiệm trên là theo yêu cầu của cá nhân, mẫu và tên mẫu do người đề nghị cung cấp, không phải do cơ quan tố tụng trưng cầu, nên không được sử dụng kết quả trong tố tụng. Theo quy định của pháp luật thì các anh phải tiến hành đi xét nghiệm lại ADN, nhưng do ông B bị đột tử đã chết ngày 11/4/2025 nên không lấy được mẫu máu xét nghiệm của ông B được, nên các anh đã lấy mẫu máu xét nghiệm của ông Trần Văn C, sinh năm 1967 là em trai ruột của ông B để làm xét nghiệm ADN với các anh. Ngày 11/5/2025 các anh và ông Trần Văn C đã đi xét nghiệm ADN tại Công ty TNHH - - Phòng khám Đ1 số 11. Địa chỉ số B D, quận C, thành phố Hà Nội. Theo kết quả xét nghiệm ADN ký hiệu YID2505118-1 và mẫu ký hiệu YID2505118-2 anh Nguyễn Thành T và ông Trần Văn C có quan hệ huyết thống theo dòng Cha và theo kết quả xét nghiệm ADN ký hiệu YID2505118-1 và mẫu ký hiệu YID2505118-3 anh Nguyễn Thành H và ông Trần Văn C có quan hệ huyết thống theo dòng Cha. Nay các anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên xác định ông Trần Thanh B là cha đẻ của các anh là Nguyễn Thành T và Nguyễn Thành H theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T1 trình bày: Bà xác định về thời gian đi lại, mối quan hệ quen biết nhau dẫn đến phát sinh quan hệ tình cảm nam nữ, mang thai và sinh đôi được hai anh là Nguyễn Thành T và Nguyễn Thành H giữa bà và ông Trần Thanh B như hai anh T và H trình bày là đúng. Tuy nhiên do hai anh T và H được sinh đôi ra nhưng vì bà và ông B không có đăng ký kết hôn nên trong giấy khai sinh của hai anh T và H không được ghi tên cha. Sau khi bà sinh đôi được ra hai anh T và H thì mới biết quan hệ hôn nhân của ông B và bà N vẫn đang tồn tại chưa ly hôn. Đến năm 2018 ông B làm thủ tục ly hôn với bà N tại Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên (theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 44/2018/QĐST- HNGĐ ngày 19/4/2018) của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Sau khi ông B và bà N ly hôn thì ông B và bà cũng không tiến hành đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Ngày 25/9/2020 ông B và hai anh T và H đã đi xét nghiệm ADN tại Công ty TNHH C2 và xét nghiệm y học Bệnh viện Đ số 42 N, quận B, thành phố Hà Nội. Theo kết quả xét nghiệm ADN theo mẫu ADN ký hiệu HID2009094-1 và mẫu ADN ký hiệu HID2009094-2 anh Nguyễn Thành T và ông Trần Thanh B có quan hệ huyết thống là C1 - con và theo kết quả xét nghiệm ADN theo mẫu ADN ký hiệu HID 2009094-1 và mẫu ADN ký hiệu HID2009094-3 anh Nguyễn Thành H và ông Trần Thanh B có quan hệ huyết thống là C1 - con. Tuy nhiên do hai kết quả xét nghiệm trên là theo yêu cầu của cá nhân, mẫu và tên mẫu do người đề nghị cung cấp, không phải do cơ quan tố tụng trưng cầu, nên không được sử dụng kết quả trong tố tụng. Theo quy định của pháp luật thì hai anh T và H phải tiến hành đi xét nghiệm lại ADN, nhưng do ông B bị đột tử đã chết ngày 11/4/2025 nên không lấy được mẫu máu xét nghiệm của ông B được, nên hai anh T và H có nguyện vọng làm thủ tục xác định cha cho con nên đã đề nghị với ông Trần Văn C, sinh năm 1967 (là em trai ruột của ông B) để lấy mẫu máu xét nghiệm của ông C làm xét nghiệm ADN với hai anh T và H và được ông C đồng ý. Ngày 11/5/2025 ông C và hai anh T và H đã đi xét nghiệm ADN tại Công ty TNHH - Phòng khám Đ1 số 11. Địa chỉ số B D, quận C, thành phố Hà Nội. Theo kết quả xét nghiệm ADN ký hiệu YID2505118-1 và mẫu ký hiệu YID2505118-2 anh Nguyễn Thành T và ông Trần Văn C có quan hệ huyết thống theo dòng Cha và theo kết quả xét nghiệm ADN ký hiệu YID2505118-1 và mẫu ký hiệu YID2505118-3 anh Nguyễn Thành H và ông Trần Văn C có quan hệ huyết thống theo dòng Cha. Nay hai anh T và H có nguyện vọng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên xác định ông Trần Thanh B là cha đẻ của hai anh là Nguyễn Thành T và Nguyễn Thành H theo quy định của pháp luật, bà cũng hoàn toàn nhất trí.

* Theo lời khai của ông Trần Văn C trình bày: Ông là em trai ruột của ông Trần Thanh B, sinh năm 1956 trú tại thôn N, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên (hiện nay ông B đã chết). Theo ông được biết về thời gian đi lại, mối quan hệ quen biết nhau dẫn đến phát sinh quan hệ tình cảm nam nữ, mang thai và sinh đôi được hai anh là Nguyễn Thành T và Nguyễn Thành H giữa ông Trần Thanh B và bà Nguyễn Thị Thanh T1 như bà T1 và hai anh T và H trình bày là đúng. Năm 2018 ông B làm thủ tục ly hôn với bà N tại Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên (theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 44/2018/QÐST- HNGĐ ngày 19/4/2018) của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Sau khi ông B và bà N ly hôn thì ông B và bà T1 cũng không tiến hành đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Ngày 25/9/2020 ông B và hai anh T và H đã đi xét nghiệm ADN tại Công ty TNHH C2 và xét nghiệm y học Bệnh viện Đ số 42 N, quận B, thành phố Hà Nội. Theo kết quả xét nghiệm ADN theo mẫu ADN ký hiệu HID2009094-1 và mẫu ADN ký hiệu HID2009094-2 anh Nguyễn Thành T và ông Trần Thanh B có quan hệ huyết thống là C1 con và theo kết quả xét nghiệm ADN theo mẫu ADN ký hiệu HID 2009094-1 và mẫu ADN ký hiệu HID2009094-3 anh Nguyễn Thành H và ông Trần Thanh B có quan hệ huyết thống là C1 - con. Tuy nhiên do hai kết quả xét nghiệm trên là theo yêu cầu của cá nhân, mẫu và tên mẫu do người đề nghị cung cấp, không phải do cơ quan tố tụng trưng cầu, nên không được sử dụng kết quả trong tố tụng. Theo quy định của pháp luật thì hai anh T và H phải tiến hành đi xét nghiệm lại ADN, nhưng do ông B bị đột tử đã chết ngày 11/4/2025 nên không lấy được mẫu máu xét nghiệm của ông B được, nên hai anh T và H có nguyện vọng làm thủ tục xác định cha cho con nên đã đề nghị với ông để lấy mẫu máu xét nghiệm của ông vì ông là em trai ruột của ông B để làm xét nghiệm ADN với hai anh T và H và được ông đã đồng ý. Ngày 11/5/2025 ông và hai anh T và H đã đi xét nghiệm ADN tại Công ty TNHH - Phòng khám Đ1 số 11. Địa chỉ số B D, quận C, thành phố Hà Nội. Theo kết quả xét nghiệm ADN ký hiệu YID2505118-1 và mẫu ký hiệu YID2505118-2 anh Nguyễn Thành T và ông Trần Văn C có quan hệ huyết thống theo dòng Cha và theo kết quả xét nghiệm ADN ký hiệu YID2505118-1 và mẫu ký hiệu YID2505118-3 anh Nguyễn Thành H và ông Trần Văn C có quan hệ huyết thống theo dòng Cha. Nay hai anh T và H có cầu Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên xác định ông Trần Thanh B là cha đẻ của hai anh là Nguyễn Thành T và Nguyễn Thành H theo quy định của pháp luật, ông cũng hoàn toàn nhất trí.

- Theo lời khai bà Đặng Thị N trình bày: Bà và ông Trần Thanh B, sinh năm 1956 đã có quan hệ hôn nhân. Trong quá trình chung sống bà và ông B có 02 con chung là anh Trần Đức H1, sinh năm 1982 và chị Trần Thị Ngọc T2, sinh năm 1985. Bà và ông B chung sống đến năm 2018 thì ông B có đơn xin ly hôn bà được Toà án nhân dân huyện Ân Thi giải quyết và đã ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số: 44/2018/QÐST- HNGĐ ngày 19/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Bà xác định trong thời kỳ hôn nhân giữa bà và ông B chỉ có hai con chung là anh H1 và chị T2 ngoài ra không có con chung nào khác. Tại buổi làm việc Toà án thông báo cho bà biết về việc anh Nguyễn Thành T và anh Nguyễn Thành H có đơn yêu cầu Toà án xác định cha đẻ là ông Trần Thanh B, bà đề nghị Toà án tiến hành xác minh và giải quyết theo quy định của pháp luật. Sau khi trình bày mặc dù đã được Toà án giải thích pháp luật nhưng bà N đã từ chối không ký vào biên bản và từ chối nhận các văn bản tố tụng của Toà án, bà cho rằng bà không có liên quan gì.

Ngày 20 tháng 5 năm 2025 Toà án tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương về việc Xác định cha cho anh Nguyễn Thành T và anh Nguyễn Thành H được địa phương cung cấp: Ông Trần Thanh B, sinh năm 1956, trú tại thôn N, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên đã chết ngày 11/4/2025. Ông B có kết hôn với bà Đặng Thị N, sinh năm 1959. Trong quá trình chung sống ông B và bà N chỉ có hai con chung là anh Trần Đức H1, sinh năm 1982 và chị Trần Thị Ngọc T2, sinh năm 1985. Trong quá trình ông B và bà N chung sống có phát sinh mâu thuẫn nên đến năm 2018 thì ly hôn và được Toà án nhân dân huyện Ân Thi giải quyết ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số: 44/2018/QÐST- HNGĐ ngày 19/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Theo địa phương được biết ông B có quan hệ tình cảm với bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1974 ở thôn N, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên và có hai con riêng là anh Nguyễn Thành T, sinh năm 2002 và anh Nguyễn Thành H, sinh năm 2002. Nay hai anh T và H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên xác định ông Trần Thanh B là cha đẻ của hai anh là Nguyễn Thành T và Nguyễn Thành H. Quan điểm của địa phương đề nghị Toà án tiến hành xác minh và Trưng cầu giám định ADN để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Công văn số: 28/CV-MEDVN ngày 20/5/2025 của Công ty TNHH - xác định đã tiến hành lấy mẫu và thực hiện xét nghiệm theo đúng phương pháp, tiêu chuẩn. Theo kết quả xét nghiệm ADN ký hiệu YID2505118-1 và mẫu ký hiệu YID2505118-2 anh Nguyễn Thành T và ông Trần Văn C có quan hệ huyết thống theo dòng Cha và theo kết quả xét nghiệm ADN ký hiệu YID2505118-1 và mẫu ký hiệu YID2505118-3 anh Nguyễn Thành H và ông Trần Văn C có quan hệ huyết thống theo dòng Cha.

Tại phiên họp: Những người yêu cầu anh Nguyễn Thành T, anh Nguyễn Thành H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Trần Văn C vắng mặt có lý do, còn bà Đặng Thị N có quan điểm từ chối và không có liên quan gì. Tòa án mở phiên họp giải quyết vắng mặt các đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

* Quan điểm của đại diện viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

  • + Về tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ việc đúng thẩm quyền, xác định đúng yêu cầu, đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ việc đúng thời hạn quy định. Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh T, anh H, bà T1 và ông C chấp hành đúng quy định pháp luật. Bà N chưa chấp hành các quy định của pháp luật.
  • + Về nội dung: Đề nghị căn cứ khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 88; Điều 89; Điều 90; Khoản 2 Điều 101; Khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình. Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Chấp nhận yêu cầu Xác định cha cho con của anh Nguyễn Thành T và anh Nguyễn Thành H. Xác nhận anh Nguyễn Thành T, sinh năm 2002 và anh Nguyễn Thành H, sinh năm 2002 là con đẻ của ông Trần Thanh B. Anh T và anh H được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp. Tòa án nhân dân huyện Ân Thi nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Thành T và anh Nguyễn Thành H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về việc Xác định cha cho con. Đây là việc dân sự quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án huyện Â, tỉnh Hưng Yên thụ lý, giải quyết việc dân sự là có căn cứ và đúng thẩm quyền.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Những người yêu cầu anh Nguyễn Thành T, anh Nguyễn Thành H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Trần Văn C vắng mặt có lý do, còn bà Đặng Thị N có quan điểm từ chối và không liên quan đến việc giải quyết, bà N cũng xác định anh T và anh H không phải là con đẻ của bà. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành phiên họp.

[3] Về yêu cầu Xác định cha cho con của các anh Nguyễn Thành T và anh Nguyễn Thành H: Ông Trần Thanh B và bà Nguyễn Thị Thanh T1 là hai người cùng địa phương có quan hệ tình cảm nam nữ với nhau nên sinh đôi ra các anh Nguyễn Thành T, sinh năm 2002 và anh Nguyễn Thành H, sinh năm 2002. Bà T1 đã đi làm giấy khai sinh cho anh T và anh H nhưng vì cha, mẹ không có đăng ký kết hôn nên trong giấy khai sinh của các anh không được ghi tên cha. Tuy nhiên tại thời điểm bà T1 sinh đôi anh T và anh H thì quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Thanh B và bà Đặng Thị N vẫn đang tồn tại. Đến ngày 19/4/2018, Toà án nhân dân huyện Ân Thi mới giải quyết cho ông B và bà N ly hôn nhau. Quyết định cũng xác định ông B và bà N không có con chung là anh Nguyễn Thành T, sinh năm 2002 và anh Nguyễn Thành H, sinh năm 2002. Nay anh T và anh H có đơn yêu cầu Tòa án xác nhận ông Trần Thanh B là cha đẻ của anh Nguyễn Thành T và anh Nguyễn Thành H. Bà T1 cũng đồng ý với yêu cầu của anh T và anh H. Căn cứ vào lời khai của các đương sự, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả xét nghiệm AND ký hiệu YID2505118-1 và mẫu ký hiệu YID2505118-2; kết quả xét nghiệm ADN ký hiệu YID2505118-1 và mẫu ký hiệu YID2505118-3 và Công văn số 28/CV-MEDVN ngày 20/5/2025 của Công ty TNHH -, thì anh Nguyễn Thành T và anh Nguyễn Thành H với ông Trần Văn C có quan hệ huyết thống theo dòng Cha.

Từ những nhận định nêu trên, Toà án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên xét thấy yêu cầu của anh Nguyễn Thành T và anh Nguyễn Thành H về việc Xác định cha cho con là có căn cứ pháp lý chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình Xác định anh Nguyễn Thành T, sinh năm 2002 và anh Nguyễn Thành H, sinh năm 2002 là con đẻ của ông Trần Thanh B.

[4] Về lệ phí: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 88; Điều 89; Điều 90; Khoản 2 Điều 101; Khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình. Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu Xác định cha cho con của anh Nguyễn Thành T và anh Nguyễn Thành H. Xác nhận anh Nguyễn Thành T, sinh năm 2002 và anh Nguyễn Thành H, sinh năm 2002 là con đẻ của ông Trần Thanh B, sinh năm 1956.
  2. Về lệ phí: Anh T và anh H được miễn tiền lệ phí theo quy định của pháp luật.
  3. Về quyền kháng cáo: Những người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV và THA - Tòa án tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - UBND xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Nguyễn Tiến Lũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 33/2025/QÐST-HNGĐ ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN về xác định cha cho con

  • Số quyết định: 33/2025/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xác định cha cho con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger