|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/KDTM-PT Ngày: 24/11/2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng; Bà Triệu Thị Luyện.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Mai Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 42/2025/TLPT - KDTM, ngày 15/10/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2025/KDTM-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần B; Địa chỉ: Khu phố Q, phường Đ, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Minh T - Chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Minh T:
1. Bà Nguyễn Thị L - Chức vụ: Phó Giám đốc (có mặt); Địa chỉ: Số A A, khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
2. Bà Trần Thị M - Trưởng văn phòng L1 (có mặt); Địa chỉ: B Ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn D1; Địa chỉ trụ sở: Thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Daniel Ho Poh Y- Chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền:
1. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1998 (có mặt).
2. Bà Nguyễn Thị Phương H - Chi nhánh công ty L2 tại Bắc Ninh (có mặt); Cùng địa chỉ: Số E Hồ N, phường K, tỉnh Bắc Ninh.
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần B1 là bà Trần Thị M trình bày:
Công ty cổ phần B1 (gọi tắt là Công ty B1) chuyên cung cấp sản phẩm bao bì thùng carton. Thông qua giới thiệu, công ty trách nhiệm hữu hạn D1 (gọi tắt là Công ty D1) đã liên hệ bên công ty ký Hợp đồng nguyên tắc số: SA-CO/2023-10/VPP-SMP.004 ngày 03/10/2023 về việc cung cấp sản phẩm bao bì giấy để đặt hàng với số lượng như sau:
- Ngày 07/6/2024 Công ty D1 có đặt một đơn hàng số PA240604-SMP-1 đặt 1.000 thùng. Trong đó, đã xuất hóa đơn số 85 ngày 28/12/2024, tên hàng hóa: Thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 449791, W/LITHO, đơn vị tính cái, số lượng 965, đơn giá 98.000 tổng tiền hàng phải thanh toán là 102.135.600 đồng. Với đơn hàng này Công ty D1 chưa thanh toán.
- Ngày 28/8/2024 Công ty D1 có đặt hai đơn hàng gồm:
+ Đơn đặt hàng số PO2408210050 đặt 3.250 thùng, với giá trị là 357.048.000 đồng của hóa đơn số 63 và số 64.
+ Đơn đặt hàng số PO2408060051-1 đặt 3.100 thùng. Trong đó đã giao nhận hàng hóa thực tế và xuất hóa đơn số lượng 3.100 thùng với giá trị là 377.686.800 đồng của hóa đơn số 63 và số 64.
Trong đó đã giao nhận hàng hóa thực tế và xuất hóa đơn số 63 ngày 14/10/2024, tên hàng hóa: Thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455456, W/LITHO, đơn vị tính cái, số lượng 840, đơn giá 120.100; Thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455305, W/LITHO, đơn vị tính cái, số lượng 1535, đơn giá 107.000. Tổng tiền hàng phải thanh toán là 286.339.320 đồng. Còn nợ số tiền gốc của hóa đơn 63 là 121.218.120 đồng.
Hóa đơn số 64 ngày 25/10/2024 tên hàng hóa: Thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455456, W/LITHO, đơn vị tính cái, số lượng 2.260, đơn giá 110.100; Thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455305, W/LITHO, đơn vị tính cái, số lượng 1.715, đơn giá 97.000. Tổng số tiền hàng phải thanh toán là 448.395.480 đồng. Hóa đơn 64 còn nợ số tiền hàng gốc là 377.070.822 đồng.
- Ngày 15/10/2024 công ty D1 có đặt một đơn hàng số PO241014-SMP đặt 5.000 thùng. Trong đó, đã giao nhận hàng hóa thực tế và xuất hóa đơn số lượng 4.995 thùng với giá là 575.504.433 đồng theo hóa đơn số 71 và số 78.
Hóa đơn số 71 ngày 21/11/2024 tên hàng hóa: Thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455305, W/LITHO, đơn vị tính cái, số lượng 2000, đơn giá 101.850. Tổng tiền hàng phải thanh toán là 219.996.000 đồng. Hóa đơn 71 còn nợ số tiền hàng gốc là 219.996.000 đồng.
Hóa đơn số 78 ngày 09/12/2024, tên hàng hóa: Thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455456, W/LITHO, đơn vị tính cái, số lượng 995, đơn giá 126.105; Thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455305, W/LITHO, đơn vị tính cái, số lượng 2000, đơn giá 101.850. Tổng tiền hàng phải thanh toán là 355.508.433 đồng. Hóa đơn 78 còn nợ số tiền gốc của mã hàng thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455305, W/LITHO là 219.996.000 đồng; còn nợ số tiền gốc của mã hàng thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455456, W/LITHO là 80.637.633 đồng. Tổng số tiền gốc của hóa đơn số 78 còn nợ là 300.633.633 đồng.
Tính đến ngày 05/02/2025, số tiền công ty D1 chưa thanh toán qua các lần đặt hàng số tiền gốc còn nợ 1.121.054.175 đồng, công ty B1 đã thông báo về việc ngừng hợp tác và nhiều lần gửi thông báo yêu cầu thanh toán nhưng phía Công ty D1 vẫn chưa hoàn tất nghĩa vụ thanh toán theo đúng thỏa thuận. Nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của công ty bị ảnh hưởng nghiêm trọng nên công ty B1 làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết: Buộc Công ty TNHH D1 thanh toán số tiền gốc là 1.121.054.175 đồng và thanh toán số tiền lãi 0,8%/tháng theo lãi suất Ngân hàng, tính từ ngày vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng nguyên tắc của từng đơn hàng theo từng hóa đơn giá trị gia tăng đã phát hành số 63, số 64, số 71, số 74, số 78 và số 85 xác định ngày vi phạm phát sinh nghĩa vụ thanh toán tiền lãi là sau 45 ngày kể từ ngày phát hành các hóa đơn trên đến ngày xét xử, cụ thể như sau:
Hóa đơn số 63 ngày 14/10/2024, tên hàng hóa: Thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455456, W/LITHO và thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455305, W/LITHO. Tổng tiền hàng phải thanh toán là 286.339.320 đồng. Hóa đơn 63 còn nợ số tiền hàng gốc là 121.218.120 đồng. Tính lãi vi phạm từ ngày 29/11/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là 08 tháng 29 ngày, tiền lãi là 7.680.000đồng.
Hóa đơn số 64 ngày 25/10/2024, tên hàng hóa: Thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455456, W/LITHO và thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455305, W/LITHO. Tổng tiền hàng phải thanh toán là 448.395.480 đồng. Hóa đơn 64 còn nợ số tiền hàng gốc là 377.070.000 đồng. Tính lãi vi phạm từ ngày 10/12/2024 đến ngày xét xử là 08 tháng 18 ngày, tiền lãi là 24.171.000 đồng.
Hóa đơn số 71 ngày 21/11/2024, tên hàng hóa: Thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455305, W/LITHO. Tổng tiền hàng phải thanh toán là 219.996.000 đồng. Hóa đơn 71 còn nợ số tiền hàng gốc là 219.996.000 đồng. Tính lãi vi phạm từ ngày 05/01/2025 đến ngày xét xử là 08 tháng 23 ngày, tiền lãi là 12.319.000 đồng.
Hóa đơn số 78 ngày 09/12/2024, tên hàng hóa: Thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455456, W/LITHO và thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455305, W/LITHO, đơn vị tính cái, số lượng 2000, đơn giá 101.850. Tổng số tiền hàng phải thanh toán là 355.508.433 đồng. Hóa đơn 78 còn nợ số tiền gốc của mã hàng thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455305, W/LITHO là 219.996.000 đồng; còn nợ số tiền gốc của mã hàng thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 455456, W/LITHO là 80.637.633 đồng. Tổng số tiền gốc của hóa đơn số 78 còn nợ là 300.633.633 đồng. Tính lãi vi phạm từ ngày 24/01/2025 đến ngày xét xử là 07 tháng 04 ngày, tiền lãi là 16.835.000 đồng.
Hóa đơn số 85 ngày 28/12/2024, tên hàng hóa: Thùng giấy PKG, CORR, BOX TOP 449791, W/LITHO, tổng tiền hàng phải thanh toán là 102.135.600 đồng. Hóa đơn 85 còn nợ số tiền hàng gốc là 102.135.000 đồng. Tính lãi vi phạm từ ngày 12/02/2025 đến ngày xét xử là 06 tháng 16 ngày, tiền lãi là 4.982.000 đồng.
Tổng cộng tiền lãi của các hóa đơn công ty yêu cầu Tòa án giải quyết là 65.987.000 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 1.187.041.175 đồng.
Bị đơn là Công ty TNHH D1 do bà Nguyễn Thị Phương H đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 03/10/2023, Công ty cổ phần B1 có giao kết Hợp đồng nguyên tắc số SA-CO/2023-10/VPP-SMP.004 về việc cung cấp sản phẩm bao bì giấy với Công ty D1. Thời hạn hợp đồng là 01 năm.
Theo đó các bên thỏa thuận công ty cổ phần B1 cung cấp sản phẩm theo đơn đặt hàng của công ty D1. Mỗi đơn đặt hàng sẽ được quy định cụ thể về tên hàng, số lượng, quy cách...chất lượng hàng hóa mà công ty B1 cung cấp phải được thực hiện theo đúng mẫu mà hai bên đã thỏa thuận trước khi sản xuất.
Liên quan đến phương thức thanh toán thì công ty D1 có đặt 04 đơn hàng với Công ty B1 theo các mã PO 2408210050; Mã PO 2408210050-1; Mã PO241014-SMP và Mã PA240604-SMP-1. Cả 4 đơn hàng đó bên công ty đặt là 2 mẫu thiết kế là 455456 và mẫu 455305. Tổng số tiền hàng mà công ty đặt 4 đơn là 1.310.239.233 đồng. Bên công ty đã thanh toán được một phần tiền là 219.320.658 đồng. Số tiền công ty còn phải thanh toán là 1.018.918.575 đồng.
Đối với đơn hàng mã liệu 449791 với 1000 sản phẩm thì bên công ty B1 chưa giao cho công ty nên công ty không chấp nhận số tiền theo hóa đơn số 85 là 102.135.000 đồng.
Tại Điều 3 của Hợp đồng nguyên tắc số SA-CO/2023-10/VPP-SMP.004 các bên thỏa thuận, cụ thể như sau: “Hình thức thanh toán: Đặt cọc 10% giá trị đơn hàng, thanh toán 90% giá trị còn lại đơn hàng sau 45 ngày kể từ ngày bên B nhận hàng và các chứng từ, hóa đơn hợp lệ liên quan đến việc cung cấp sản phẩm bao bì giấy Bên A...”.
Ngoài ra hai bên còn thỏa thuận ký kết với nhau thỏa thuận không tiết lộ thông tin. Trong đó tại điểm 6 của thỏa thuận có ghi rõ “Mọi thông tin và tài liệu do bên Tiết lộ thông tin công ty D1 cung cấp cho bên nhận thông tin công ty B1 theo thỏa thuận này mãi mãi là sở hữu của bên công ty D1 và bất kỳ tài liệu hữu hình nào, bao gồm cả tài liệu do bên công ty D1 cung cấp hay bất kỳ bản sao nào của công ty D1 sẽ phải trả lại ngay cho bên công ty D1 hoặc tiêu hủy theo lựa chọn của bên công ty D1..."
Như vậy theo các điều khoản trên thì việc công ty D1 yêu cầu bên công ty B1 gửi hai bản thiết kế mã 455456 và 455305 là đúng theo điều khoản mà hai bên đã thỏa thuận với nhau. Thực tế trong suốt hai năm hợp tác kinh doanh giữa hai công ty thì công ty D1 luôn yêu cầu công ty B1 gửi bản thiết kế. Tuy nhiên công ty B1 chưa lần nào gửi cho công ty D1. Nhưng cũng vì mối quan hệ làm ăn lâu năm và các đối tác của công ty D1 cũng không yêu cầu công ty D1 phải gửi cho bên đối tác của công ty D1 những mẫu thiết kế đó.
Sau này bên đối tác bạn hàng của công ty D1 là SEOIN có nhập lô hàng mẫu 455456 và 455305 của công ty D1 thì phát hiện hàng và mẫu trước đó không giống nhau. Khi đó SEON đã yêu cầu công ty D1 gửi bản thiết kế để đối chiếu và công ty D1 yêu cầu bên công ty B1 gửi thiết kê. Tuy nhiên lúc đầu đồng ý gửi nhưng sau đó công ty B1 không biết vì lý do gì đó không gửi cho công ty D1 nên đối tác của công ty D1 gia hạn cho công ty A ngày để gửi thiết kế, nếu không gửi sẽ hoàn lại đơn hàng trả công ty D1. Khi đó công ty D1 đã phải thuê bên khác vẽ lại bản thiết kế để gửi sang cho đối tác và sau đó công ty D1 cũng phải giảm xuống 20% đối với các đơn hàng mà bị lỗi đó.
Do đó căn cứ theo hợp đồng nguyên tắc, theo hợp đồng bảo mật thông tin và sự trao đổi giữa hai bên thì công ty D1 không vi phạm nghĩa vụ thanh toán mà bên vi phạm đó là bên công ty B1.
Ngoài việc công ty B1 không gửi mẫu thiết kế thì còn vi phạm về việc trao đổi thông tin với nhân viên của công ty D1 và các đối tác của công ty D1. Điều này đã vi phạm Điều 5 của hợp đồng nguyên tắc mà hai bên đã ký kết. Phía công ty B1 đã liên hệ với nhiều đối tác của công ty D1. Hậu quả là bạn hàng của công ty D1 mất niềm tin và ép công ty D1 phải giảm giá các đơn hàng. Do công ty B1 chưa thực hiện xong nghĩa vụ của mình trong Hợp đồng giữa các bên, vì vậy công ty D1 không dồng ý trả lãi suất chậm trả, lãi phạt trên nợ gốc như phía công ty B1 yêu cầu. Công ty đề nghị công ty B1 phải gửi bản vẽ thiết kế chuẩn cuối cùng của đơn hàng cho công ty D1. Mọi vấn đề trao đổi thông tin giữa hai bên chỉ trao đổi với D hoặc C. Yêu cầu bên Vprint thực hiện đúng thỏa thuận bảo mật thông tin kể cả khi trong trường hợp hai bên không còn hợp tác. Sau khi nhận được bản vẽ cũng như cam kết chấm dứt mọi
hành vi vi phạm thỏa thuận bảo vệ bí mật thông tin của hai bên thì công ty D1 sẽ ngay lập tức thanh toán toàn bộ nợ gốc trong một lần.
Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 227, 228, 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Áp dụng Điều 24; Điều 50; Điều 306 của Luật thương mại năm 2005; Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần B1.
Buộc công ty trách nhiệm hữu hạn D1 phải trả công ty cổ phần B1 số tiền hàng gốc còn nợ là 1.21.054.175 đồng (Một tỷ, một trăm hai mươi mốt triệu, không trăm năm mươi bốn nghìn đồng) và tiền lãi là 65.987.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu, chín trăm tám mươi bảy nghìn đồng). Tổng cộng cả gốc và lãi là 1.187.041.175 đồng (Một tỷ, một trăm tám mươi bảy triệu, không trăm bốn mươi mốt nghìn, một trăm bảy mươi lăm đồng).
Buộc công ty trách nhiệm hữu hạn D1 tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán, kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử 29/8/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận 0,8%/tháng trong Hợp đồng nguyên tắc số SA-CO/2023-10/VPP-SMP.004 ký ngày 03/10/2023 cho đến khi công ty trách nhiệm hữu hạn D1 thanh toán hết các khoản nợ cho công ty cổ phần B1.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 17/9/2025 anh Nguyễn Văn P là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH D1 kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, và không trình bày hay tranh luận gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của công ty TNHH D1, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.
Công ty TNHH D1 phải chịu 2.000.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty TNHH D1 nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.
Bản án sơ thẩm xác định về quan hệ “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” và thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên, trong phần quyết định của bản án căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực là chưa chính xác, do đó, cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm về việc áp dụng điều luật trong phần quyết định của bản án.
[2]. Về nội dung: Giữa công ty cổ phần B1 và công ty TNHH D1 có ký kết Hợp đồng nguyên tắc số: SA-CO/2023-10/VPP-SMP.004 ngày 03/10/2023 về việc công ty B1 cung cấp sản phẩm bao bì giấy để đặt hàng cho công ty D1 với số lượng như sau:
- Ngày 07/6/2024 công ty D1 đặt đơn hàng số PA240604-SMP-1 đặt 1000 thùng, đã xuất hóa đơn số 85 ngày 28/12/2024 với tổng tiền hàng phải thanh toán là 102.135.600 đồng. Đơn hàng này công ty D1 chưa thanh toán.
- Ngày 28/8/2024 công ty D1 đặt 02 đơn hàng gồm: Đơn đặt hàng số PO2408210050 đặt 3250 thùng với giá trị 357.048.000 đồng và đơn đặt hàng số PO2408060051-1 đặt 3100 thùng với giá trị 377.686.800 đồng. Trong đó đã giao nhận hàng hóa thực tế và xuất hóa đơn số 63 ngày 14/10/2024 với tổng tiền hàng phải thanh toán là 286.339.320 đồng, còn nợ 121.218.120 đồng; xuất hóa đơn số 64 ngày 25/10/2024 với tổng tiền hàng phải thanh toán là 448.395.480 đồng, còn nợ 377.070.822 đồng.
- Ngày 15/10/2024 công ty D1 đặt đơn hàng số PO241014-SMP đặt 5000 thùng. Trong đó đã giao nhận hàng hóa thực tế và xuất hóa đơn số 71 ngày 21/11/2024 với tổng tiền hàng phải thanh toán là 219.996.000 đồng, còn nợ số tiền 219.996.000 đồng; xuất hóa đơn số 78 ngày 09/12/2024 với tổng tiền hàng phải thanh toán là 355.508.433 đồng, còn nợ số tiền 300.633.633 đồng.
Tính đến ngày 05/02/2025 số tiền nợ gốc mà công ty D1 chưa thanh toán qua các lần đặt hàng là 1.121.054.175 đồng. Công ty B1 đã thông báo về việc ngừng hợp tác và nhiều lần gửi thông báo yêu cầu thanh toán nhưng phía công ty D1 không thanh toán theo đúng thỏa thuận.
Vì vậy công ty B1 khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Công ty D1 phải thanh toán số tiền nợ gốc là 1.121.054.175 đồng và thanh toán số tiền lãi 0,8%/tháng theo lãi suất Ngân hàng tính từ ngày vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng nguyên tắc của từng đơn hàng theo từng hóa đơn giá trị gia tăng đã phát hành là 65.987.000 đồng. Tổng cả gốc và lãi là 1.187.041.175 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty cổ phần B1.
Sau khi bản án sơ thẩm xử, bị đơn là Công ty TNHH D1 do anh Nguyễn Văn P – người đại diện theo ủy quyền kháng cáo toàn bộ bản án.
Xét kháng cáo của công ty TNHH D1 thấy:
Giữa công ty cổ phần B1 và công ty TNHH D1 có ký kết Hợp đồng nguyên tắc số: SA-CO/2023-10/VPP-SMP.004 ngày 03/10/2023 về việc công ty B1 cung cấp sản phẩm bao bì giấy để đặt hàng cho công ty D1. Xét thấy khi ký kết các hợp đồng trên, hai bên đương sự có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các thỏa thuận trong hợp đồng đều do các bên trực tiếp tham gia ký kết trên cơ sở tự nguyện và đảm bảo đúng các quy định của pháp luật, hợp đồng đáp ứng đủ các điều kiện về nội dung và hình thức. Do vậy, hợp đồng có hiệu lực pháp luật buộc các bên phải tuân thủ theo đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận.
Sau khi hai bên ký kết Hợp đồng trên, công ty B1 đã thực hiện việc giao hàng đảm bảo đúng chủng loại, chất lượng về độ nén, độ bục, trọng lượng thùng dựa trên tiêu chuẩn chất lượng mà bên công ty D1 yêu cầu. Tuy nhiên tính đến ngày 05/02/2025 phía công ty D1 chưa hoàn thành nghĩa vụ thanh toán với công ty B1. Chính tại lời trình bày của phía công ty D1 cũng xác nhận công ty còn phải thanh toán cho công ty B1 số tiền 1.018.918.575 đồng, riêng đối với hóa đơn số 85, mã liệu 449791 với 1000 sản phẩm, do công ty B1 chưa giao hàng cho công ty D1 nên công ty D1 không đồng ý thanh toán cho công ty B1 số tiền gốc 102.135.600 đồng và số tiền lãi phát sinh trên số tiền gốc của hóa đơn này.
Căn cứ vào Điều 3 của Hợp đồng nguyên tắc thể hiện: “...Trường hợp đến ngày nhận hàng mà bên B chưa nhận hàng thì phải báo trước cho bên A trước 24 giờ, sau đó bên B phải thực hiện nghĩa vụ nhận hàng của mình không được trễ quá 48 giờ kể từ ngày bên B nhận hàng theo đúng lịch giao hàng đã cam kết. Nếu không nhận hàng thì tất cả các chi phí phát sinh có liên quan đến việc lưu kho và hưu hỏng sẽ được bên B chịu trách nhiệm (nếu có) đồng thời bên A sẽ bắt đầu tính thời gian phải thanh toán giá trị còn lại của đơn hàng sau 48 giờ thông báo mà bên B chưa sắp xếp
nhận hàng.” Trong quá trình giải quyết vụ án, phía công ty B1 đã cung cấp tài liệu giao dịch về các file dữ liệu hai bên trao đổi liên quan đến đơn hàng mã liệu 449791, phía công ty S có phản hồi bằng gmail gửi cho công ty B1 về việc chưa bố trí được kho để nhận hàng và đề nghị phía công ty B1 lưu kho. Như vậy đến ngày giao nhận hàng mặc dù phía công ty B1 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao hàng nhưng phía bên công ty D1 không thực hiện nghĩa vụ nhận hàng theo như thỏa thuận.
Ngoài ra đối với tất cả các đơn hàng, phía công ty B1 khi giao hàng cho công ty D1 đều thể hiện tại các biên bản giao nhận hàng, có xác nhận đầy đủ chữ ký của bên giao hàng, bên nhận hàng, địa điểm giao nhận hàng như bên hai thỏa thuận trong hợp đồng nguyên tắc. Phía công ty B1 đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng đầy đủ chi bên công ty S tiếp nhận và không có văn bản tài liệu nào thể hiện việc từ chối nhận hàng hay yêu cầu sửa chữa hàng hóa.
Như vậy có thể thấy công ty S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền gốc lãi như thỏa thuận trong hợp đồng do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc công ty S phải thanh toán cho công ty B1 số tiền tổng cộng cả gốc và lãi là 1.187.041.175 đồng là có căn cứ, công ty TNHH D1 là người kháng cáo nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ, do đó, cần bác toàn bộ kháng cáo của công ty TNHH D1, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử,
Các quyết định khác của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
[3]. Về án phí: Công ty TNHH D1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của công ty TNHH D1, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.
2. Về án phí phúc thẩm: Công ty TNHH D1 phải chịu 2.000.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ số tiền 2.000.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000893 ngày 29/9/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 - Bắc Ninh.
3. Các quyết định khác của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Bình |
Quyết định số 33/2025/KDTM-PT ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số quyết định: 33/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Nguyên đơn: Công ty cổ phần bao bì Vprint Back; Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Thương mại Smartpac Việt Nam
