|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số:82/2024/DS-PT
Ngày: 17/7/2024
V/v: Đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Phương
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Trung Tín
Bà Lê Thị Hạng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thiên Hương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 và 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đinh K, sinh năm 1981
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện theo ủy quyền của bà K: ông Lê Trường H, sinh năm: 1978; nơi cư trú: tổ dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (Văn bản ủy quyền ngày 24/7/2023). Có mặt.
* Bị đơn: Ông Đặng Ngọc T, sinh năm 1985
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện theo ủy quyền của ông T: Bà Đào Thị H1, sinh năm: 1970; nơi cư trú: F Q, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 05/9/2023). Có mặt.
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn P, sinh năm: 1970; nơi cư trú: thôn A, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm: 1966; nơi cư trú: thôn A, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm: 1976; nơi cư trú: thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
- Bà Võ Thị Đông H3, sinh năm: 1986; nơi cư trú: tổ dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ H4, sinh năm: 1987; nơi cư trú: tổ dân phố P, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ H5, sinh năm: 1986; nơi cư trú: tổ dân phố T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; yêu cầu xét xử vắng mặt.
* Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đinh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đinh K và người đại diện của nguyên đơn ông Lê Trường H trình bày: Bà Nguyễn Thị Đinh K với ông Đặng Ngọc T có quen biết nhau và cùng nhiều lần góp tiền chung để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau đó chuyển nhượng lại để kiếm lãi. Khoảng tháng 02/2022, bà K cùng ông T và một số người khác góp vốn để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn P, sinh năm 1970, trú tại thôn A, xã N, thị xã N.
Đầu giờ chiều, ngày 30/3/2022, ông T gọi cho bà K bảo chuẩn bị tiền để đi ký hợp đồng và trả tiền cho ông P, bà K ghé ngân hàng V vào hồi 13 giờ 30phút để rút số tiền là 400.000.000₫ (phần góp vốn) sau đó về nhà đợi ông T ghé chở đi. Khoảng 14 giờ 30 phút thì ông T đến chở bà K đi lên N chở ông P; lúc này ông T nhận từ bà K số tiền 400.000.000đ sau khi kiểm đủ, ông T bỏ vào cốp xe chung với số tiền mà các bên góp vào. Trên đường chở ông P từ N về N để chứng thực hợp đồng chuyển nhượng thì vợ của ông T điện thoại cho bà K ghé cây xăng T5, xã N để lấy 200.000.000đ tiền bà K mượn của vợ ông T. Khi đến cây xăng, ông T xuống xe nhận số tiền 200.000.000đ tiền từ người bạn của vợ ông T và ông T đưa cho bà K, bà K bỏ lên trên taplo xe ông T nhưng ông T nói rằng “tiền để đó coi chừng người ta đập vỡ kính xe em rồi lấy mất, để em cất giùm chị sau cốp xe luôn” thì bà K đồng ý cho ông T đem tiền cất vào cốp xe.
Sau khi ký chứng thực hợp đồng thì về lại nhà bà K, lúc này bà K bị say xe nên bà K đi vào ngồi ở bàn cùng mọi người còn T lấy gói tiền góp chung xuống để trả cho ông P. Sau khi nhận đủ tiền thì ông T chở ông P về lại N. Qua ngày hôm sau, bà K mới nhớ ra khoản tiền 200.000.000đ mượn của vợ ông T tại cây xăng T5, xã N ông T giữ giùm nên bà K liên lạc cho ông T để nhận lại nhưng ông T không chịu trả lại. Nay bà K yêu cầu ông Đặng Ngọc T phải trả lại số tiền 200.000.000₫ mà ông T đã cất giùm bà K vào ngày 30/3/2022 tại Cây xăng T - N.
* Bị đơn ông Đặng Ngọc T và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Ông Đặng Ngọc T và bà Nguyễn Thị Đinh K thường xuyên góp tiền mua bán bất động sản nhằm kiếm lời. Khoảng tháng 3 năm 2022, ông T biết thông tin ông Nguyễn Phước M sang nhượng thửa đất số 924 tờ bản đồ số 7 tại TDP P, phường N, nên nhóm ông T bà K thống nhất nhận chuyển nhượng với giá 1.400.000.000₫; ông T ứng tiền để bà K đặt cọc 70.000.000 đồng cho ông P và ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 30/3/2022. Các bên thỏa thuận góp vốn gồm bà Nguyễn Thị Đinh K 400.000.000₫, ông Đặng Ngọc T 200.000.000đ, bà Võ Thị Đông H3 200.000.000đ, bà Nguyễn Thị Mỹ H4: 200.000.000đ, bà Nguyễn Thị Kim T1 200.000.000đ, bà Trần Thị Thu T2 100.000.000₫ và bà Võ Thị Kim C 100.000.000đ. Ngày 30/3/2022, ông T đã gom đủ tiền các thành viên khác là 800.000.000₫ và ông T 200.000.000đ tổng cộng là 1.000.000.000đ. Trong đó có bà T2 góp vốn 100.000.000₫ nhưng chưa có tiền góp nên bà T2 nhờ ông T mượn của bà K 100.000.000 đồng vào lúc hơn 11 giờ ngày 30/3/2022 tại nhà bà K; bà H3 góp thiếu 100.000.000₫ nên nhờ ông T mượn giúp để bù vào khoản tiền của bà H3 góp thiếu.
Khoảng hơn 14 giờ, ngày 30/3/2022, ông T đến nhà chở bà K đi lên N chở ông P để ký hợp đồng; khi gặp, bà K hỏi ông T “tiền em bỏ ở đâu?” ông T trả lời “bịch tiền lớn nên em để ở cốp xe sau” rồi bà K bảo ông T mở cốp để bà K bỏ túi tiền vào cốp xe và đi chở ông P chứ các bên không kiểm điếm tiền của bà K. Trên đường đi, vợ ông T là Nguyễn Thị Mỹ H4 điện thoại cho ông T bảo ông T ghé cây xăng Trung Thực chờ bạn của vợ ông T đưa 200.000.000đ cho bà K mượn. Tại cây Xăng T, ông T nhận 01 cọc tiền loại tiền mệnh giá 200.000đ còn nguyên dấu và buộc dây niêm phong của ngân hàng A giao cho bà K để trên taplo. Ông T nói tiền để đây không an toàn nên bà K nói ông T mang ra cốp xe sau cất.
Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì mọi người về lại nhà bà K để giao tiền cho ông P; mọi người vào nhà, ông T mở cốp xe lấy túi tiền 1.000.000.000₫, cọc tiền 200.000.000đ và túi tiền của bà K mang hết vào bàn gỗ trước sân. Bà K mở các túi tiền, đếm tiền và giao cho gia đình ông P với số tiền 1.330.000.000đ, trả 70.000.000đ tiền ông T ứng để đặt cọc ngày 22/03/2022, tổng tiền là 1.400.000.000đ. Ngày 13/04/2022, thửa đất đã có người mua lại với giá 2.090.000.000 đồng và nhóm thống nhất bán. Ông T đại diện nhận cọc 200.000.000đ; bà K điện thoại hỏi ông T nếu nhóm chưa sử dụng số tiền 200.000.000₫ này thì cho bà K mượn để trả 200.000.000đ cho vợ ông T mà bà K nhận tại Cây xăng T vào ngày 30/3/2022; các thành viên đều đồng ý nên bà K đã nhận 200.000.000đ và trả cho vợ T tổng số tiền gốc và lãi: 203.000.000đồng.
Sau thời gian hơn 2 tháng kể từ ngày 30/3/2022, bà K điện thoại cho ông T báo về việc ông T còn giữ của bà K 200.000.000₫ vào ngày 30/3/2022 và yêu cầu trả lại. Ông T xác định số tiền 200.000.000₫ nhận tại Cây xăng T là tiền bà K mượn của vợ ông T để góp tiền mua đất; bà K cho rằng số tiền trong túi nhựa bà K bỏ vào cốp xe 400.000.000đ là không có căn cứ vì chưa được kiểm điểm; đồng thời ông T đã mang số tiền 200.000.000đ vào cùng với số tiền của các thành viên góp vốn để chồng tiền cho ông P nên đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà K.
Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2023/DS-ST ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đinh K về việc buộc ông Đặng Ngọc T phải trả lại số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 30/10/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đinh K có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn xác định khoảng 14 giờ ngày 30/3/2020, ông T mang ô tô đón bà K tại nhà để đến nhà ông Nguyễn P tại xã N, thị xã N. Khi lên xe bà K mang theo 400.000.000đồng bỏ trong bị đen đưa cho ông T cất vào cốp xe. Trên đoạn đường đón ông P đến Văn phòng công chứng tại thị xã N thì xe có dừng lại cây xăng T, xã N để bà K nhận 200.000.000đồng vay của bà Nguyễn Thị Mỹ H4 (vợ bị đơn) và được bà H4 nhờ bạn giao tại địa điểm này. Khi dừng xe, ông T là người ra khỏi xe để nhận số tiền này và đưa cho bà K bỏ vào trước kiếng lái (một lốc tiền mệnh giá từ 200.000đồng). Sau đó, ông T đề xuất bà K đưa cho ông T cất vào phần sau cốt xe cho an toàn để khỏi mất trộm khi ra khỏi xe và được bà K đồng ý. Quá trình di chuyển từ đoạn đường trên đến văn phòng công chứng xe ông T không ngừng địa điểm nào khác. Tuy nhiên, khi trên xe di chuyển ông T có nghe điện thoại của một người trong nhóm góp tiền mua đất với ông T và sau đó ông T nói người này không chuẩn bị tiền kịp nên hỏi bà K mượn số tiền trên để chồng tiền đất. Đến nơi bà K và ông P vào văn phòng C1 ký chuyển nhượng, lúc này chỉ một mình ông T ở trong xe. Sau khi ký chuyển nhượng xong tất cả mọi người lên xe di chuyển về nhà bà K để giao tiền cho vợ chồng ông P. Khi đến nhà bà K, ông T là người mang số tiền trên xe vào giao cho ông P. Bà K xác định nhận chuyển nhượng đất với số tiền là 1.400.000.000đồng bao gồm 70.000.000đồng tiền đã đặt cọc và ông P cho lại bà K 10.000.000đồng (tiền lộc) nên số tiền thực giao là 1.320.000.000đồng.Ngày hôm sau, bà K hỏi ông T trả lại số tiền 200.000.000đồng đã nhận tại cây xăng T nhưng ông T không trả dẫn đến tranh chấp. Bà K cho rằng ông T đã giữ số tiền bà K đã vay của bà H4 (là vợ ông T) nên yêu cầu Toà chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm buộc ông T trả cho nguyên đơn số tiền 200.000.000đồng.
- Bị đơn xác định trước khi di chuyển đến đón bà K tại nhà, ông T đã chuẩn bị đủ 1.000.000.000đồng để vào cốp xe. Khi bà K lên xe có đưa ông một cục tiền bỏ trong bị nilon đen, số tiền bên trong bao nhiêu ông T không biết. Quá trình di chuyển đón ông P thì có ghé cây xăng Trung T3 và ông T có nhận giúp cho bà K một lốc tiền 200.000.000đồng, mệnh giá tờ 200.000.000đồng vay của bà H4 (vợ ông T). Đến văn phòng công chứng, một mình ông T ở trên xe ô tô. Sau khi ký chuyển nhượng xong và tất cả mọi người di chuyển về nhà bà K. Ông T đã mang tất cả số tiền trên để trên bàn để bà K giao cho ông P. Việc bà K cho rằng ông T giữ 200.000.000đồng nhận tại cây xăng T5 là không đúng vì ông đã mang hết số tiền trên đưa cho bà K giao cho ông P. Do đó, bà K đòi số tiền trên ông không đồng ý và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Bà K vay của bà H4 200.000.000đồng tại cây xăng T5 và nhờ ông T nhận cất giữ trong thời gian đi ký hợp đồng chuyển nhượng và bà K không chứng minh được số tiền mang từ nhà đi là 400.000.000đồng. Số tiền bà K mang theo, cộng với số tiền vay của bà H4 200.000.000đồng đã được trả tiền chuyển nhượng cho ông P. Việc bà K cho rằng ông T giữ 200.000.000đồng nhưng không đòi ngay và đến ngày 21/7/2023, mới khởi kiện vụ án là không hợp lý. Do đó, bị đơn cho rằng không giữ số tiền 200.000.000đồng của bà K vay của bà H4 tại cây xăng T5 là có cơ sở. Vì vậy, đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 25/10/2023, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử vụ án. Ngày 30/10/2023, nguyên đơn kháng cáo bản án nêu trên. Như vậy, đơn kháng cáo của nguyên đơn còn trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn:
[2.1] Xét bị đơn giữ tiền góp chung 1.000.000.000đồng:
- Xác định những người cùng góp chung với ông T và số tiền thực tế: Theo Biên bản lấy lời khai ngày 06/5/2023 của Công an cảnh sát điều tra Công an thị xã N đối với ông Đặng Ngọc T (bl 55,56). Nội dung lời khai của ông T xác định việc hùng vốn mua đất của ông Nguyễn P gồm 07 người: Bà Nguyễn Thị Đinh K góp 400.000.000đồng, ông T góp 200.000.000đồng, bà Nguyễn Thị Kim T1 góp 200.000.000đồng, bà Võ Thị Đông H3 góp 200.000.000đồng, bà Nguyễn Thị Mỹ H4 góp 200.000.000đồng, bà Trần Thị T2 góp 100.000.000đồng, bà Võ Thị Kim C góp 100.000.000đồng. Trừ bà K thì 05 người còn lại đều chuyển tiền cho ông T. Đối với bà H4, bà C và bà T1 thì ông T thu tiền bằng hình thức chuyển khoản; bà H3 và bà T2 ông nhận bằng tiền mặt. Như vậy, số tiền góp của 05 người nêu trên và tiền của ông T là 1.000.000.000đồng. Tuy nhiên, ông T thừa nhận bà H4, C và bà T1 chuyển khoản và bà T2 chuyển tiền mặt cho ông T ngày đi gặp ông P ký hợp đồng. Vậy tổng cộng số tiền của ông T và những người chuyển cho ông T đã được thừa nhận gồm bà H4, C, T1 và bà T2 là 800.000.000đồng. Theo Chứng từ giao dịch ngày 30/3/2022 tại Ngân hàng N- Chi nhánh K1 chứng minh trong tài khoản số 0061001097770 đứng tên ông Đặng Ngọc T có số tiền 800.000.000đồng và ông T đã rút hết vào ngày 30/3/2022.
- Xét thực tế phần góp vốn của bà H3 với số tiền 200.000.000đồng và việc chuyển tiền, yêu cầu mượn tiền của bà H3: Theo Biên bản lấy lời khai ngày 23/10/2023 của Toà án nhân dân thị xã Ninh Hoà đối với bà Võ Thị Đông H3 về phần vốn góp 200.000.000đồng nêu trên. Bà H3 xác định khoản hơn 13 giờ ngày 30/3/2022 bà rút tiền ngân hàng đưa cho ông T số tiền 100.000.000đồng. Số tiền 100.000.000đồng còn lại bà hẹn lúc sau lấy, tuy nhiên do bà H3 không xoay tiền kịp nên khoảng hơn 16 giờ cùng ngày bà H3 đã gọi điện cho ông T vay giúp 100.000.000đồng và ông T đồng ý. Như vậy, thời điểm khoảng 14 giờ ngày 30/3/2022, ông T đã có nguồn tiền từ việc rút ngân hàng là 800.000.000đồng và 100.000.000đồng của bà H3 giao cho ông T. Do đó, xác định số tiền thực tế góp và số tiền của ông T cộng lại là 900.000.000đồng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà phúc thẩm ông T cho rằng những người góp đủ số tiền ông mang lên xe trước khi đến đón bà K tổng cộng 1.000.000.000đồng là thiếu cơ sở.
- Xét thời điểm ông T cho rằng vay của bà Nguyễn Thị Mỹ H5 100.000.000đồng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà phúc thẩm ông T xác định ông mượn tiền 100.000.000đồng của bà H5 trước khi đi đón bà K khoảng 14 giờ đến 14 giờ 30 ngày 30/3/2022 nên ông T chuẩn bị đủ 1.000.000.000đồng. Trong đó, số tiền 100.000.000đồng bà H3 còn thiếu không xoay kịp và hỏi nhờ ông T mượn dùm thì ông T đã vay của bà Nguyễn Thị Mỹ H5 trước khi lên xe đón bà K. Việc vay mượn của ông T đối với số tiền này có viết giấy vay.
Theo Biên bản lấy lời khai ngày 16/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa đối với ông Nguyễn P (bl 121) cho thấy trên đoạn đường từ văn phòng C2 đến nhà bà K thì ông P có nghe ông T với bà K nói chuyện có một người trong nhóm thiếu tiền (có nói tên nhưng ông không nhớ tên gì) và bà K đồng ý lấy tiền cho mượn. Theo Biên bản lấy lời khai ngày 05/3/2023, bà H3 xác định gọi điện cho ông T khoảng thời gian hơn 16 giờ ngày 30/3/2022 (bl 77, 78, 122) để nhờ ông T mượn 100.000.000đồng. Tại thời điểm đến đón bà K tại nhà thì chưa phát sinh yêu cầu mượn tiền của bà H3 và bà H3 chưa gọi điện thoại cho ông T để nhờ mượn 100.000.000đồng còn thiếu nhưng ông T tự biết bà H3 thiếu tiền để đi vay trước 100.000.000đồng của bà H5 là không đúng với logic thời gian và diễn biến sự việc. Như vậy, bà H3 chỉ phát sinh yêu cầu mượn tiền và gọi cho ông T lúc hơn 16 giờ cùng ngày nên không có việc ông T tự đi mượn tiền khi bà H3 chưa có yêu cầu. Do đó, số tiền ông T xác định mang lên xe đủ 1.000.000.000đồng là không có cơ sở.
- Xét các Giấy mượn tiền giữa ông Đặng Ngọc T với bà Nguyễn Thị Mỹ H5, giữa ông Đặng Ngọc T với bà Võ Thị Đông H3: Nội dung các giấy mượn tiền thể hiện không phải viết ngay tại thời điểm vay mượn tiền ngày 30/3/2022. Tại phiên toà phúc thẩm, ông T thừa nhận các giấy vay tiền giữa ông T với bà Nguyễn Thị Mỹ H5 và giấy vay tiền giữa bà Võ Thị Đông H3 với ông T đều là các giấy viết lại sau khi cơ quan công an mời lên làm việc để nhằm hợp thức hoá. Tuy nhiên, ông T không giải thích được vì sao số tiền 100.000.000đồng bà H3 đã trả nợ xong cho ông sau 02 ngày (sau ngày 30/3/2022) và ông T trả nợ xong cho bà H5 nhưng tại sao khi cơ quan công an mời lên làm việc thì sau đó lại viết các giấy nợ ký hợp thức hóa nộp cho cơ quan công an để nhằm mục đích gì. Do đó, các giấy nợ trên không hợp pháp và không chứng minh số tiền ông T mang lên xe trước khi đón bà K là 1.000.000.000đồng.
Như vậy, có cơ sở xác định số tiền mặt bà K và ông T mang lên xe khi di chuyển: Phần ông T chuẩn bị là 900.000.000đồng và phần bà K là 400.000.000đồng. Tổng cộng 1.300.000.000đồng.
Theo Biên bản lấy lời khai ngày 27/10/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N và Biên bản lấy lời khai ngày 16/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa đối với ông Nguyễn Phước . Nội dung thể hiện ông T là người trực tiếp giao tiền đất cho ông P số tiền 1.300.000.000đồng (số tiền này ông P xác định đều bỏ trong bị đen). Cộng với số tiền 70.000.000đồng của ông T đã đặt cọc và ông P bớt lại cho bà K 10.000.000đồng (tiền lộc). Đối với số tiền còn lại ông P xác định ông T lấy 20.000.000đồng từ cục tiền có mệnh giá 200.000đồng mà ông T mang từ cốp xe ô tô vào để trên bàn nhà bà K để giao. Sau khi lấy 20.000.000đồng giao cho ông P thì số tiền còn lại ông T mang ra cốp xe ôtô cất. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T thừa nhận khi đến nhà bà K giao tiền cho ông P có tổng cộng 03 cục tiền. Trong đó, cục tiền 200.000.000đồng ông nhận tại cây xăng T5 cất dùm cho bà K có tờ tiền mệnh giá 200.000đồng. Ông T đã giao cho ông P hai cục tiền là 1.300.000.000đồng và số tiền còn lại ông T lấy từ cục tiền thứ ba ra 20.000.000đồng có mệnh giá từ 200.000đồng để giao đủ cho ông P là 1.320.000.000đồng. Số tiền còn lại ông T cất giữ. Như vậy, có đủ cơ sở xác định cục tiền thứ ba có tờ tiền mệnh giá 200.000đồng là cục tiền ông T nhận và cất dùm bà K tại cây xăng T5. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 200.000.000đồng là có cơ sở.
[2.2]. Xác định phần góp 400.000.000đồng và số tiền vay 200.000.000đồng của bà K:
- Phần góp 400.000.000đồng: Theo các Biên bản lấy lời khai tại các bút lục nêu trên, ông P xác định, khi ông T giao hai cục tiền đầu tiên cho ông P là 1.300.000.000đồng nên có cơ sở xác định hai cục tiền của bà K và ông T chuẩn bị là 1.300.000.000đồng. Phân tích nêu trên cho thấy, chứng minh ông T mang lên xe 900.000.000đồng. Đồng thời, theo chứng từ giao dịch (Giấy rút tiền) tại Ngân hàng TMCP N-Chi nhánh K1 cho thấy lúc 13 giờ 51 phút ngày 30/3/2020, bà K đã rút tiền mặt tại Ngân hàng V1 số tiền 400.000.000đồng nên có cơ sở xác định cục tiền bỏ trong bị đen của bà K là 400.000.000đồng.
- Đối với 200.000.000đồng bà K vay của bà H4 (vợ ông T) nhận tại cây xăng T được bà H4 nhờ bà Nguyễn Thị Đ giao cho ông T: Theo bà H4 xác định cho bà K vay số tiền 200.000.000đồng và nhờ người bạn giao tại cây xăng T5. Quá trình di chuyển từ nhà ông P đến văn phòng công chứng các bên đương sự đều xác định có dừng lại cây xăng Trung T3 nhận số tiền 200.000.000đồng của bà K vay của bà H4. Ông T thừa nhận là người trực tiếp được bà K nhờ nhận số tiền 200.000.000đồng. Ông T xác định khi nhận số tiền này thì hiện trạng lốc tiền mệnh giá tờ tiền 200.000.000đồng nguyên kiện rút từ ngân hàng. Khi nhận lên xe thì ông T đề xuất với bà K đưa cho ông T bỏ ra sau cốp xe cất giữ cho an toàn. Như vậy, các bên đều thừa nhận có số tiền 200.000.000đồng được ông T giúp bà K cất giữ trên xe ô tô.
Vậy có đủ cơ sở xác định số tiền bà K giao cho ông T giữ tổng cộng là 600.000.000đồng. Phần góp 400.000.000đồng đã giao tiền mua đất. 200.000.000đồng còn lại ông T giữ nên phải trả lại cho bà K.
Trên cơ sở phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và sửa bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn không chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đinh K, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đinh K. Buộc ông Đặng Ngọc T phải trả lại cho bà K số tiền 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng).
* Về án phí:
- Ông Đặng Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 10.000.000đồng (Mười triệu đồng).
- H6 lại cho bà Nguyễn Thị Đinh K số tiền 5.000.000đồng và 300.000đồng theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí tòa án số AA/2021/0001267 ngày 25/07/2023 và AA/2022/0001687 ngày 21/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa.
* Quy định: Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Đình Phương |
Quyết định số 82/2024/DS-PT ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về đòi tài sản
- Số quyết định: 82/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản, hủy văn bản tặng cho quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
