|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/DS-ST
Ngày: 13-6-2024
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phan Văn Cương |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Đức Hiếu |
| Ông Mai Văn Du |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thùy Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số 292/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-DS ngày 03/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62 ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A (sau đây viết tắt là: Ngân hàng TMCP A hoặc A1 hoặc Ngân hàng); Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A Tòa nhà G, số C đường H, phường Ô, quận Đ, TP Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Mạnh K, chức vụ: Chủ tịch HĐQT; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Q, chức vụ: Trưởng Ban xử lý nợ; Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Xuân P, sinh năm 1990; Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; Địa chỉ: B đường L, phường C, quận T, TP Đà Nẵng. Ông P có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành L, sinh ngày 15/9/1992 và bà Phạm Thị Như N, sinh ngày 15/5/1993; Địa chỉ: K đường T, tổ A, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Ông L, bà N vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/11/2023 của nguyên đơn Ngân hàng TMCP A; bản tự khai đề ngày 13/6/2024 và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Xuân P trình bày:
Ngân hàng TMCP A chi nhánh Đ – P1 và ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N đã ký kết các hợp đồng tín dụng như sau: Hợp đồng cho vay từng lần số 3690/22/TD/CN/090 ngày 04/10/2022 với các nội dung cụ thể: Số tiền vay: 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng); Mục đích vay: Vay tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình; Thời hạn vay: 120 tháng, từ ngày 06/10/2022 đến 07/10/2032; Lãi suất trong hạn: 12.75%/năm, tần suất thay đổi lãi suất: 03 tháng/lần kể từ ngày 06/10/2024; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn. Nguyên tắc và các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh: Lãi suất cơ sở tại thời kỳ đổi lãi tương ứng theo quy định của A1 + biên độ 3.9%/năm.
Để bảo đảm cho khoản vay trên tại Ngân hàng TMCP A, ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 3690.1/22/TC/CN/090 ngày 04/10/2022, số công chứng 10546 quyển số 01/2022/ TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/10/2022 được Công chứng tại Văn phòng C, để thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 298, tờ bản đồ số 16 (số cũ: thửa đất 978, tờ bản đồ số 03), địa chỉ: Tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Địa chỉ thực địa hiện nay: K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 048249, số vào sổ cấp GCN: CTs 08162, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 11/12/2012 cho ông Lê Xuân Q1, bà Lê Thị Tuyết N1, chính lý biến động sang tên ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N ngày 21/03/2017.
Tài sản thế chấp đã được hoàn thiện thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm tại chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận C, thành phố Đà Nẵng ngày 04/10/2022.
Sau khi được Ngân hàng TMCP A2 số tiền 1.200.000.000 đồng (một tỷ hai trăm triệu đồng) cho đến nay bị đơn ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N mới chỉ thanh toán được khoản nợ lãi trong hạn với tổng số tiền là: 126.899.845 đồng. Từ ngày 15/8/2023 đến nay ông L, bà N không thanh toán được nợ lãi, nợ gốc cho Ngân hàng TMCP A. Theo quy định tại Hợp đồng Ngân hàng có quyền chuyển toàn bộ nợ gốc sang nợ quá hạn, tuy nhiên để tạo điều kiện cho khách hàng trở nợ, từ ngày 15/11/2023 Ngân hàng chỉ chuyển nợ quá hạn đối với số tiền nợ gốc theo kỳ (mỗi kỳ thanh toán nợ gốc là 11.100.000 đồng).
Dư nợ của ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N tính đến ngày 02/11/2023 với số tiền là 1.230.291.936 đồng, trong đó bao gồm: Nợ gốc: 1.200.000.000 đồng; Nợ lãi: 30.291.936 đồng.
2
Dư nợ của bị đơn tính đến ngày 13/06/2024 với tổng số tiền là: 1.332.941.697 đồng, trong đó bao gồm: Nợ gốc : 1.200.000.000 đồng; Nợ lãi: 132,941,697 đồng (trong đó gồm: Lãi trong hạn: 128.060.718 đồng, lãi quá hạn: 4.880.979 đồng.
Ngân hàng TMCP A đã nhiều lần liên hệ làm việc đề nghị khách hàng trả nợ vay. Tuy nhiên, ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và vi phạm các cam kết trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng đã ký.
Để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của A1, Ngân hàng TMCP A đề nghị Tòa án giải quyết như sau:
- Buộc ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP A tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 13/06/2024 là: 1.332.941.697 đồng (Một tỷ ba trăm ba mươi hai triệu, chín trăm bốn mươi mốt nghìn, sáu trăm chín mươi bảy đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc:1.200.000.000 đồng; Nợ lãi: 132.941.697 đồng, trong đó gồm: Nợ lãi trong hạn: 128.060.718 đồng, nợ lãi quá hạn: 4.880.979 đồng.
- Buộc ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP A số nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 14/6/2024 theo mức lãi suất được quy định tại các Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ vay cho Ngân hàng TMCP A.
- Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N không trả được nợ thì A1 có quyền tự xử lý tài sản và/hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 298, tờ bản đồ số 16 (số cũ: thửa đất 978, tờ bản đồ số 03), địa chỉ: Tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Địa chỉ thực địa hiện nay: K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 048249, số vào sổ cấp GCN: CTs 08162, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 11/12/2012 cho ông Lê Xuân Q1, bà Lê Thị Tuyết N1. Chỉnh lý biến động sang tên ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N ngày 21/03/2017.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N tại A1. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho A1.
3
Qúa trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N nhưng ông L bà N không có ý kiến phản hồi, không tham gia các phiên hòa giải, không tham gia phiên tòa. Do đó Tòa án không ghi nhận được ý kiến, trình bày của bị đơn ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa: quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 299, khoản 7 Điều 323, Điều 303, Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP A, buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày xét xử ngày đến ngày 13/06/2024 là: 1.332.941.697 đồng. Ông L, bà N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tiền lãi từ sau ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng và giấy nhận nợ cho đến khi thoanh toán hết nợ vay cho Ngân hàng.
Trường hợp ông L, bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 298, tờ bản đồ số 16 (số cũ: thửa đất 978, tờ bản đồ số 03), địa chỉ: Tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Địa chỉ thực địa hiện nay: K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 048249, số vào sổ cấp GCN: CTs 08162, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 11/12/2012 cho ông Lê Xuân Q1, bà Lê Thị Tuyết N1, đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N ngày 21/03/2017.
Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa và những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
4
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP A và bị đơn là ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N. Vì vậy, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn là ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N đều có nơi cư trú tại phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Do đó, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng về thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N vắng mặt. Tuy nhiên Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn, đây là lần vắng mặt thứ 2 của bị đơn không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung tranh chấp quá trình tố tụng và tại phiên tòa đại diện Ngân hàng TMCP A giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP A tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 13/6/2024 là: 1.332.941.697 đồng (Một tỷ ba trăm ba mươi hai triệu, chín trăm bốn mươi mốt nghìn, sáu trăm chín mươi bảy đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc: 1.200.000.000 đồng; Nợ lãi: 132.941.697 đồng, trong đó gồm: Nợ lãi trong hạn: 128.060.718 đồng, nợ lãi quá hạn: 4.880.979 đồng.
- Buộc ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP A số nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 14/6/2024 theo mức lãi suất được quy định tại các Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ vay cho Ngân hàng TMCP A.
- Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N không trả được nợ thì A1 có quyền tự xử lý tài sản và/hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 298, tờ bản đồ số 16 (số cũ: thửa đất 978, tờ bản đồ số 03), địa chỉ: Tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Địa chỉ thực địa hiện nay: K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 048249, số vào sổ cấp GCN: CTs 08162, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 11/12/2012 cho ông Lê Xuân Q1, bà Lê Thị Tuyết N1. Chỉnh lý biến động sang tên ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N ngày 21/03/2017.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N tại A1. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Thành L và nà Phạm Thị Như N vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho A1.
5
[3] Xét yêu cầu của đương sự, trên cơ sở xem xét ý kiến, trình bày của đương sự có mặt tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát cùng các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP A về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N phải trả khoản nợ gốc: 1.200.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngân hàng TMCP A chi nhánh Đ – P1 và ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N đã ký kết hợp đồng tín dụng cho vay từng lần số 3690/22/TD/CN/090 ngày 04/10/2022 với các nội dung cụ thể: Số tiền vay: 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng); Mục đích vay: Vay tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình; Thời hạn vay: 120 tháng, từ ngày (06/10/2022 đến 07/10/2032). Thực hiện hợp đồng vay, ngày 06/10/2022 thì Ngân hàng TMCP A đã giải ngân cho ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N số tiền 1.200.000.000 đồng (một tỷ hai trăm triệu đồng) theo giấy nhận nợ ngày 06/10/2022. Theo Điều 5 của hợp đồng quy định “Ngày trả nợ gốc đầu tiên là sau 12 tháng kể từ ngày 04/10/2022” “Kỳ trả lãi: hàng tháng, thời điểm trả vào ngày 15 hàng tháng”. Sau khi được giải ngân, ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N mới chỉ thanh toán được khoản nợ lãi trong hạn với tổng số tiền là: 126.899.845 đồng. Từ ngày 15/8/2023 đến nay ông L, bà N không thanh toán được nợ lãi được khoản nợ lãi, nợ gốc cho Ngân hàng TMCP A. Theo Điều 7 của Hợp đồng tín dụng cho vay từng lần quy định “Khi đến ngày trả nợ gốc và hoặc lãi theo quy định, nếu bên vay không trả đúng hạn ...thì A1 có quyền chuyển toàn bộ hoặc một phần dư nợ gốc thực tế còn lại của khoản vay sang nợ quá hạn”. Theo Điều 11 của hợp đồng quy định “A1 có quyền... chấm dứt việc cho vay, xử lý tài sản bảo đảm và thu hồi nợ trước hạn một phần hoặc toàn bộ các khoản vay (gốc, lãi, phí, phạt, các khoản phải trả) của bên vay khi thuộc một trong các đường hợp...Bên vay/hoặc bên bảo đảm vi phạm hợp đồng này...”.
Như vậy, theo các quy định tại hợp đồng cho vay như đã viện dẫn nêu trên thì bị đơn ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N đã vi phạm hợp đồng cho vay. Ngân hàng yêu cầu ông L, bà N phải trả toàn bộ khoản nợ gốc 1.200.000.000 đồng (một tỷ, hai trăm triệu đồng) là có căn cứ, phù hợp với Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L và Phạm Thị Như N phải thanh toán cho
6
Ngân hàng TMCP A số tiền nợ gốc là 1.200.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm triệu đồng).
[3.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP A buộc bị đơn phải trả khoản nợ lãi tổng cộng 132.941.697 đồng, trong đó gồm: Nợ lãi trong hạn: 128.060.718 đồng, nợ lãi quá hạn: 4.880.979 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với khoản lãi trong hạn với số tiền 128.060.718 đồng: Theo thỏa thuận tại hợp đồng và giấy nhận nợ thì mức lãi suất được áp dụng là 12,75%/năm (mức lãi được áp dụng trong vòng 24 tháng kể từ ngày 06/10/2022). Ngày 06/10/2022, sau khi được Ngân hàng TMCP A2 số tiền 1.200.000.000 đồng (một tỷ hai trăm triệu đồng) cho đến nay bị đơn ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N mới chỉ thanh toán được khoản nợ lãi trong hạn với tổng số tiền là: 126.899.845 đồng. Từ ngày 15/8/2023 đến nay ông L, bà N không thanh toán được nợ lãi được khoản nợ lãi, nợ gốc cho Ngân hàng TMCP A. Đến ngày 15/11/2023, Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn theo kỳ thanh toán đối với khoản vay của ông L, bà N. Theo Điều 5 của hợp đồng quy định “Ngày trả nợ gốc đầu tiên là sau 12 tháng kể từ ngày 04/10/2022” “Kỳ trả lãi: hàng tháng, thời điểm trả vào ngày 15 hàng tháng”. Với số tiền nợ gốc 1.200.000.000 đồng (một tỷ hai trăm triệu đồng), theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng và giấy nhận nợ là 12,75%/năm nêu trên thì bị đơn ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N phải chịu khoản tiền lãi trong hạn theo bảng tính lãi của Ngân hàng với tổng số tiền 128.060.718 đồng là có căn cứ, phù hợp với Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với khoản lãi quá hạn với số tiền 4.880.979 đồng: Theo Điều 7 của Hợp đồng như đã viện dẫn nêu trên thì khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng TMCP A có quyền chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn. Tuy nhiên Ngân hàng chỉ tính nợ quá hạn đối với số tiền gốc phải trả từng kỳ (Mỗi kỳ thanh toán: 11.100.000 đồng), với lãi suất 150% lãi trong hạn, tương ứng với thời gian chậm trả, với số tiền theo bảng kê tính lãi của Ngân hàng là 4.840.257 đồng. Việc tính lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chậm trả theo từng kỳ thanh toán này là sự tự nguyện của nguyên đơn, có lợi cho bị đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N phải thanh toán cho Ngân hàng khoản nợ quá hạn với số tiền 4.840.257 đồng.
Tổng khoản nợ lãi được Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N phải trả cho Ngân hàng TMCP A là: 132.941.697 đồng, trong đó gồm: Nợ lãi trong hạn: 128.060.718 đồng, nợ lãi quá hạn: 4.880.979 đồng.
Như vậy, tổng số tiền mà Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP A là:
7
1.332.941.697 đồng (Một tỷ ba trăm ba mươi hai triệu, chín trăm bốn mươi mốt nghìn, sáu trăm chín mươi bảy đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc:1.200.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm triệu đồng); Nợ lãi: 132.941.697 đồng, trong đó gồm: Nợ lãi trong hạn: 128.060.718 đồng, nợ lãi quá hạn: 4.880.979 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng.
[3.2] Đối với yêu cầu về xử lý tài sản bảo đảm: Để bảo đảm cho khoản vay, ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N đã thế chấp tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 298, tờ bản đồ số 16 (số cũ: thửa đất 978, tờ bản đồ số 03), địa chỉ: Tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Địa chỉ thực địa hiện nay: K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 048249, số vào sổ cấp GCN: CTs 08162, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 11/12/2012 cho ông Lê Xuân Q1, bà Lê Thị Tuyết N1. Chỉnh lý biến động sang tên ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N ngày 21/03/2017. Việc thế chấp tài sản được thực hiện theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 3690.1/22/TC/CN/090 ngày 04/10/2022 tại Văn phòng C, đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận C theo quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng vay ông L, bà N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng TMCP A như đã nêu trên. Theo quy định tại hợp đồng cho vay từng lần và Hợp đồng thế chấp bất động sản thì bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thu hồi nợ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A về việc xử lý tài sản bảo đảm. Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thu hồi nợ thì ông L, bà N vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP A.
[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) bị đơn ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N phải chịu. Do Ngân hàng TMCP A đã nộp tạm ứng (đã thu và đã chi) trong quá trình tố tụng. Do đó, buộc ông L, bà N phải trả cho Ngân hàng TMCP A khoản chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã chi là: 3.000.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N phải chịu 51.988.250 đồng; Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP A số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ:
8
- Khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 157; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 317, 318, 323 Bộ luật Dân sự 2015;
- Điều 91; 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án lệ số 08/2016/AL theo Quyết định số 698/QĐ-CA17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
2. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A đối với bị đơn ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
2.1. Buộc ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A số tiền nợ tổng cộng tính đến ngày 13/6/2024 là: 1.332.941.697 đồng (Một tỷ ba trăm ba mươi hai triệu, chín trăm bốn mươi mốt nghìn, sáu trăm chín mươi bảy đồng), trong đó bao gồm:
- - Nợ gốc: 1.200.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm triệu đồng);
- - Nợ lãi: 132.941.697 đồng (Một trăm ba mươi hai triệu, chín trăm bốn mươi mốt nghìn, sáu trăm chín bảy đồng), trong đó gồm: Nợ lãi trong hạn: 128.060.718 đồng (Một trăm hai mươi tám triệu, không trăm sáu mươi nghìn, bảy trăm mười tám đồng); Nợ lãi quá hạn: 4.880.979 đồng (Bốn triệu, tám trăm tám mươi nghìn, chín trăm chín mươi bảy đồng).
2.2 Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày 14/6/2024 ông Nguyễn Thành L, bà N còn phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP A khoản tiền lãi phát sinh đối với số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ. Trường hợp trong đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của Ngân hàng cho vay.
2.3 Về xử lý tài sản bảo đảm: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bị đơn ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 298, tờ bản đồ số 16 (số cũ: thửa đất 978, tờ bản đồ số 03), địa chỉ: Tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Địa chỉ thực địa: K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà
9
Nẵng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 048249, số vào sổ cấp GCN: CTs 08162, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 11/12/2012 cho ông Lê Xuân Q1, bà Lê Thị Tuyết N1. Chỉnh lý biến động sang tên Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N ngày 21/03/2017. Theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 3690.1/22/TC/CN/090 ngày 04/10/2022 được Công chứng tại Văn phòng C, việc thế chấp đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận C, TP Đà Nẵng vào ngày 04/10/2022.
(Hiện trạng tài sản thế chấp nêu trên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 048249, số vào sổ cấp GCN: CTs 08162, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 11/12/2012 cho ông Lê Xuân Q1, bà Lê Thị Tuyết N1. Chỉnh lý biến động sang tên Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N ngày 21/03/2017).
Nếu toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Thành L, bà Phạm Thị Như N vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A.
2.4. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) bị đơn ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N phải chịu. Quá trình tố tụng nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần A đã nộp tạm ứng để chi (đã thu và đã chi trong quá trình tố tụng). Do đó, buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
2.5. Về án phí:
- Buộc ông Nguyễn Thành L và bà Phạm Thị Như N phải chịu 51.988.250 đồng (Năm mươi mốt triệu, chín trăm tám mươi tám nghìn, hai trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 24.454.379 đồng (Hai mươi bốn triệu, bốn trăm năm mươi bốn nghìn, ba trăm bảy chín đồng) theo biên lai thu tiền số 0002756 ngày 15/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ.
2.6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niên yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
10
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phan Văn Cương |
11
Quyết định số 32/2024/DS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số quyết định: 32/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án DSST về tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng AB và Nguyễn Thành L
