Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06 – 06 – 2025

Về việc: “Ly hôn và

tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH-TỈNH BÌNH PHƯỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Xuân Đính

2. Bà Hồ Thị Xuân Thiều

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Duy – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân

thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Tuấn - Kiểm

sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước

Trong ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 53/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025, về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 07/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2025/QÐST-TA ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị T, sinh năm 1976; Địa chỉ nơi cư trú: Ấp S, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Phạm Lương B, năm sinh 1974; Địa chỉ nơi cư trú: Ấp S, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Văng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị T trình bày:

Bà T với ông B chung sống và kết hôn với nhau vào năm 1996, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Thời gian đầu vợ chồng sinh sống tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010 thì vợ chồng vào xã N sinh sống. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay lừa dối. Trước khi kết hôn thì cả hai chưa ai có chồng, có vợ. Quá trình chung sống thì thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng chỉ được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông Bằng K quan tâm chia sẻ tình cảm với vợ con, tính tình gia trưởng từ đó cuộc sống vợ chồng luôn bất hòa, không hạnh phúc. Mâu thuân kéo dài, đời sống chung không hạnh phúc nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông B để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng bà T có 3 con chung tên Phạm Thị Mỹ D, sinh năm 1997; Phạm Thị H, sinh năm 1999; Phạm Thị N, sinh ngày 10/01/2008; Nay bà T yêu cầu dược trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Thị N khi vợ chồng ly hôn và không yêu cầu ông Bằng cấp D1 nuôi con. Đối với 02 con chung Phạm Thị Mỹ D và Phạm Thị H thì đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nợ chung nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Lương B trong quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt và không cung cấp thêm chứng cứ nào.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm như sau :

+ Về thủ tục tố tụng: Xác định trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự về việc nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, cấp tống đạt và gửi các văn bản tố tụng cũng như thời hạn giải quyết vụ án. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng các nguyên tắc, thủ tục tố tụng.

+ Về nội dung: Đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1, điều 28, điểm a, khoản 1, điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 227, điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27, Nghị quyết về án phí lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: cho bà T được ly hôn với ông B, giao con chung Phạm Thị N cho anh bà T trực tiếp nuôi dưỡng; Về án phí sơ thẩm: bà T phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị T khởi kiện đối với bị đơn ông Phạm Lương B có nơi cư trú tại: xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có yêu cầu giải quyết vắng mặt; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị T và ông Phạm Lương B tự nguyện chung sống và kết hôn với nhau từ năm 1996, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S (nay là xã K), huyện H, tỉnh Hà Tĩnh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 12/6/1996 của UBND xã S (nay là xã K). Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc hay lừa dối. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng xuất phát từ việc vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống từ đó vợ chồng bất hòa, mâu thuẫn, đời sống chung không có hạnh phúc. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông B không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà T, không tham gia các phiên hòa giải Tòa án tổ chức thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm, trong khi đó bà T vẫn cương quyết ly hôn. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng của bà T và ông B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống vợ chồng không thể kéo dài. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của bà T, cho bà T được ly hôn với ông B.

Về con chung: Vợ chồng bà T có 3 con chung tên Phạm Thị Mỹ D, sinh năm 1997; Phạm Thị H, sinh năm 1999; Phạm Thị N, sinh ngày 10/01/2008. Quá trình giải quyết vụ án ông B không có ý kiến với yêu cầu của bà T về yêu cầu giải quyết con chung, mặt khác tham khảo ý kiến của con chung trên 7 tuổi thì cháu N có nguyện vọng được sống chung với mẹ khi ba mẹ ly hôn. Do đó, để bảo đảm sự phát triển về mọi mặt của con chung, cần giao con chung Phạm Thị N, sinh ngày 10/01/2008 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xêt, giải quyết.

Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Do bà Võ Thị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004809 ngày 10/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

[3] Về quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 264, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án ngày 21/12/2016.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị T.

    Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị T được ly hôn với ông Phạm Lương B

    Về con chung: Giao con chung Phạm Thị N, sinh ngày 10/01/2008 cho bà Võ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

  2. Về án phí sơ thẩm: Bà Võ Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004809 ngày 10/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
  3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh BP;
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - Chi cục THADS thị xã Chơn Thành;
  • - UBND xã Kim Hoa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Chu Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số quyết định: 31/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiejn của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger