|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 22 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Việt Giang.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Hùng.
- Ông Phạm Hoàng Tuấn.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Đàm Chuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Anh S; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 16 tháng 10 năm 1973, tại: tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số thẻ CCCD: [...]; cấp ngày 12/8/2021; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Nơi cư trú và nơi ở: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Công Đ, sinh năm 1940 - Đã chết; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị D, sinh năm1947; (mẹ bị cáo hiện ở tại khu A, xã P, huyện P). Anh chị em ruột: Có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Đào Thị Hải A, sinh năm 1978; Con: có 02 con (con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2009).
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 28/6/2010, bị TAND huyện Phù Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” và 12 tháng tù về tội “Gá bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2010/HSST. S phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 35 tháng 18 ngày. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung 7.000.000 đồng. Ngày 11/9/2010 S đã nộp án phí. Từ ngày 04/10/2010 đến ngày 19/3/2015 S đã nộp hết số tiền hình phạt bổ sung, Nguyễn Anh S đã chấp hành xong toàn bộ Bản án. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 24/12/2023 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ; Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Quang T, sinh năm 1971, (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi thường trú: Khu D, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
Nơi ở hiện nay: Khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
- Anh Lưu Văn T1 - sinh năm 1974, (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi thường trú: Khu 6, thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
- Anh Lê Văn H, sinh năm 1984, (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi thường trú: Tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Nơi ở hiện nay: Tổ B, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
- Anh Trần Quang N - sinh năm 1963, (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi thường trú: phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Nơi ở hiện nay: Khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- Anh Nguyễn Văn T2 - sinh năm 1983, (Vắng mặt)
Nơi thường trú: Khu F, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Chị Lê Thị H1 - sinh năm 1981 và anh Phí Văn H2, sinh năm 1976, (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi thường trú: xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Nơi ở hiện nay: Số B, Đường V, Bản Máy Đ1, T, huyện T, tỉnh Lai Châu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Anh S - sinh năm 1973, nơi thường trú khu M, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, chỗ ở hiện nay khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ có mở cửa hàng kinh doanh “Mua, bán ký gửi ô tô, xe máy - Anh S” tại khu E, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (S có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho thuê ô tô, xe máy; sửa chữa và thay thế phụ tùng xe máy; dịch vụ cầm đồ do Phòng tài chính kế hoạch - Ủy ban nhân dân huyện P cấp). S chủ yếu hoạt động mua bán, trao đổi xe ô tô, xe máy. Trong quá trình kinh doanh, nếu khách có nhu cầu vay tiền thì người vay tiền phải có tài sản là ô tô hoặc xe máy để đảm bảo. Người vay phải viết giấy bán xe ô tô hoặc xe máy theo mẫu giấy mà S đã in sẵn. Số tiền S cho vay tương ứng số tiền bán ô tô hoặc xe máy mà khách viết trong giấy. Lãi suất S cho vay không cố định mà tùy thuộc vào mối quan hệ, thường lãi từ 500đồng/01 triệu/01 ngày tương ứng với lãi suất 1,5%/01 tháng = 18%/01 năm đến trên 3.000đ/01 triệu/ 01 ngày tương đương với lãi suất trên 100%/01 năm. Ngoài ra, có một số trường hợp bạn bè quen biết hoặc quan hệ thân thiết thì S lấy tiền lãi vay thấp hơn hoặc không lấy lãi. Khách trả tiền lãi và tiền gốc cho S bằng hai hình thức là trả tiền mặt hoặc chuyển tiền vào tài khoản của S số 1610197399999 - Ngân hàng Q (MB).
Quá trình điều tra đã chứng minh làm rõ được 01 người vay tiền của Nguyễn Anh S, với mức lãi suất 3333 đồng/01 triệu/01 ngày tương đương mức lãi suất 10%/ 01 tháng, bằng 120%/01 năm. Cụ thể:
Anh Trần Quang T - sinh năm 1971, nơi thường trú khu D, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ, nơi ở hiện nay khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ:
Ngày 02/03/2023, do cần tiền để làm ăn nên anh Trần Quang T đến cửa hàng của S đặt vấn đề vay số tiền 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) trong thời gian 02 tháng (tức là 60 ngày). S đồng ý cho vay tiền với điều kiện anh T phải để lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Sonata, BKS 19A - 171.57 của anh T tại cửa hàng làm tin dưới hình thức viết giấy bán xe ô tô cho S. Anh T đồng ý viết giấy bán chiếc xe trên theo mẫu S đưa cho. S thỏa thuận về mức lãi suất của số tiền anh T vay là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng)/01 tháng, tương đương mức lãi suất 3333đồng/01 triệu/01 ngày, 10%/ tháng, 120%/01 năm. Anh T đồng ý. Sau đó S đưa cho anh T 150.000.000₫ (một trăm năm mươi triệu đồng) tiền mặt và sử dụng tài khoản ngân hàng MB số 1610197399999 chuyển 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) đến tài khoản ngân hàng MB số 0110106510555 của anh T. S giữ lại chiếc ô tô nhãn hiệu Huyndai Sonata, BKS: 19A - 171.57 cùng giấy bán xe mà anh T viết tay và giấy đăng kiểm xe, bản phô tô công chứng đăng ký xe. Sau đó S mang chiếc xe ô tô này đi gửi tại nhà ở của ông Lê Văn B - sinh năm 1963 ở khu F, xã P huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Đến ngày 02/05/2023 là thời hạn anh T phải trả tiền cho S, do chưa có tiền trả nên anh T thỏa thuận với S xin đến cuối năm 2023 sẽ trả nợ gốc và chỉ thanh toán 02 tháng tiền lãi vay tức là tiền lãi tháng 3 và tháng 4. S đồng ý.
Đến ngày 14/12/2023, anh T sử dụng tài khoản ngân hàng M1 chuyển số tiền 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng) đến tài khoản ngân hàng MB số 1610197399999 của S để trả tiền lãi. Nội dung anh T chuyển khoản là: “TRAN QUANG THU tra tien lai t3,t4 xe sonata 19a17157”. Sau đó anh T sử dụng số điện thoại 0339.764.xxx gọi đến số điện thoại 0984.129.xxx của S thông báo đã trả tiền lãi tháng 3 và tháng 4 năm 2023 cho S, còn tiền gốc anh T xin khất sẽ trả sau. S đồng ý.
Như vậy, Nguyễn Anh S đã thu tiền lãi vay của anh T là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng)/01 tháng, bằng lãi suất 120%/01 năm. Số tiền lãi S thu được của anh T là 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng). Trong đó:
- Số tiền lãi đến 20% theo quy định của BLDS là: 9.990.000 đồng.
- Số tiền lãi S thu lời bất chính trên 20%/01 năm là: 50.010.000 đồng.
Hiện số tiền gốc 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) anh Trần Quang T đã giao nộp cho CQĐT. S đã nộp số tiền lãi 60.000.000 đồng cho CQĐT.
Ngoài ra, Nguyễn Anh S còn cho một số người vay tiền với mức lãi suất là 500 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương mức lãi suất 02%/tháng=18%/01 năm, gồm:
- Anh Lưu Văn T1 - sinh năm 1974, thường trú tại khu F, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ:
- Anh Lê Văn H - sinh năm 1984, thường trú tại tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai:
- Anh Trần Quang N - sinh năm 1963, thường trú tại phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ:
- Anh Nguyễn Văn T2 - sinh năm 1983, thường trú tại khu F, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ:
- Chị Lê Thị H1 - sinh năm 1981, thường trú tại xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc:
Khoảng đầu tháng 10/2023 anh T1 đến cửa hàng của S đặt vấn đề vay số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng). S thỏa thuận với T1 mức lãi suất là 500 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng mức lãi suất 1,5%/01 tháng = 18%/01 năm. S yêu cầu anh T1 viết giấy vay tiền và để lại chiếc xe nhãn hiệu MAZDA CX5, biển số 19A - 180.26 (xe do anh T1 mua lại của chị Nguyễn Thị Thanh L - sinh năm 1977, thường trú thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang) để làm tin. Anh T1 đồng ý. Sau đó, anh T1 đã trả tiền lãi tháng 10, 11, 12/2023 cho S là tổng 13.500.000đ (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) bằng tiền mặt. Hiện số tiền gốc 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) anh Lưu Văn T1 đã giao nộp cho cơ quan điều tra.
Ngày 12/05/2023 anh Lê Văn H cùng với anh Trần Quang T đến cửa hàng của S đặt để vay số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). S đồng ý và bảo anh H phải có tài sản làm tin. Anh H để lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu TRANSINCO, biển số 51B – 290.65, viết giấy bán xe và đưa toàn bộ giấy tờ xe ô tô cho anh S. Anh H bảo S chuyển số tiền 75.000.000đ (bảy mươi lăm triệu đồng) đến số tài khoản 2468688699999 ngân hàng Q của anh H và chuyển vào tài khoản của anh T số tiền 75.000.000đ (bảy mươi lăm triệu đồng). S và anh H thỏa thuận khi nào trả tiền thì sẽ tính toán tiền lãi sau. Khoảng 10 ngày sau, anh Hoàn trả 50.000.000 đồng, còn lại 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) anh S và H và thống nhất tiền lãi là 500đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 1,5%/01 tháng = 18%/01 năm. Đến nay anh H đã giao nộp số tiền gốc vay 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) cho cơ quan điều tra và chưa trả tiền lãi cho S.
Ngày 26/08/2023 anh N đến cửa hàng của S vay số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). S yêu cầu anh N phải để lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING biển số 19A - 054.84 làm tin dưới hình thức viết giấy bán xe. S thỏa thuận với anh N tiền lãi là 500đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất là 1,5%/01 tháng = 18%/01 năm. Đến nay anh N đã giao nộp số tiền gốc vay 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) cho cơ quan điều tra và chưa trả tiền lãi cho S.
Ngày 28/4/2023 anh T2 đến cửa hàng của S đặt vấn đề vay số tiền 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng). S yêu cầu anh T2 phải để lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA FRONTIER biển số 98C-037.73 làm tin dưới hình thức viết giấy bán xe. S thỏa thuận với anh T2 tiền lãi là 500đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất là 1,5%/01 tháng = 18%/01 năm. Đến nay anh T2 vẫn chưa trả tiền gốc và tiền lãi cho S.
Ngày 03/10/2023, chị H1 đến đặt vấn đề với S để vay số tiền 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng). S đồng ý cho vay với mức lãi suất là 500đồng/01 triệu/ 01 ngày, tương ứng với mức lãi suất là 1,5%/01 tháng = 18%/01 năm. Do quen biết làm ăn đã lâu nên S không yêu cầu chị H1 viết giấy vay tiền và để lại tài sản gì để làm tin. Đến sáng ngày 17/12/2023, chị H1 tiếp tục đến vay thêm số tiền là 147.000.000₫ (một trăm bốn mươi bảy triệu đồng), S đồng ý cho vay với lãi suất vẫn là 1,5%/01 tháng. S bảo chị H1 để lại tài sản để làm tin. Chị H1 và chồng là Phí Văn H2 thống nhất để lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI biển số 25B-001.81 và vợ chồng chị H1 viết giấy bán chiếc xe ô tô trên với số tiền là 242.000.000đ (hai trăm bốn mươi hai triệu đồng), gồm số tiền 147.000.000đ vay ngày 17/12/2023 và 95.000.000đ vay trước đó. Do không đủ tiền nên S bảo chị H1 là đưa trước 85.000.000đ (tám mươi lăm triệu đồng), số tiền còn lại hẹn hôm sau là ngày 18/12/2023 sẽ đưa nốt. Tuy nhiên, sau đó S bị bắt nên chưa đưa nốt tiền cho chị H1. Như vậy tổng số tiền mà chị H1 đã vay của S là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng). Đến nay chị H1 đã giao nộp số tiền gốc vay 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng) cho cơ quan điều tra và chưa trả tiền lãi cho S.
Ngày 04/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh P tiến hành giám định số khung, số máy của 09 (chín) xe ô tô và 12 (mười hai) xe mô tô tạm giữ trong quá trình khám xét đối với Nguyễn Anh S. Ngày 29/01/2024 Phòng K2 Công an tỉnh P có Kết luận giám định từ số 171 đến 191 đối với 09 (chín) xe ô tô và 12 (mười hai) xe mô tô gửi trưng cầu. Kết quả có 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TRANSINCO, biển số 51B – 290.65 có “Số máy bị tẩy xóa, không xác định được chữ và số nguyên thủy”. Kiểm tra hồ sơ đăng ký xe ô tô thấy trùng khớp với số máy đăng ký trong hồ sơ, chiếc xe ô tô biển số 51B-290.63 không có làm thủ tục đục lại khung máy. Còn lại 08 (tám) xe ô tô và 12 (mười hai) xe mô tô đều “Không phát hiện tẩy xóa, sửa chữa số máy, số khung”.
Ngày 31/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh P tiến hành giám định 06 (sáu) phôi Chứng nhận đăng ký xe ô tô và 10 (mười) phôi Chứng nhận đăng ký xe mô tô tạm giữ trong quá trình khám xét đối với Nguyễn Anh S. Ngày 05/02/2024 Phòng K2 Công an tỉnh P có Kết luận giám định số 231 đối với số phôi Chứng nhận đăng ký xe ô tô và mô tô: 06 (sáu) phôi Chứng nhận đăng ký xe ô tô và 10 (mười) phôi Chứng nhận đăng ký xe mô tô đều là thật.
* Vật chứng thu giữ trong vụ án:
Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã tạm giữ trong quá trình khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm cất giữ phương tiện đối với Nguyễn Anh S và do Nguyễn Anh S tự nguyện giao nộp gồm:
- Tiền ngân hàng N4: 83.130.000đ (tám mươi ba triệu một trăm ba mươi nghìn), gồm: 23.130.000 đồng thu giữ khi khám xét khẩn cấp và 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng)/ 02 tháng tiền lãi S đã thu của anh T.
- 01 (một) bản phô tô căn cước công dân mang tên Nguyễn Anh S.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 Pro Max, IMEI: 35 391610 639936 3, gắn sim số 0984129499. Điện thoại đã qua sử dụng.
- 01 (một) bản phô tô Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 18F8001298, đăng ký lần đầu ngày 15/9/2000, đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 02/4/2018 Phòng Tài chính - kế hoạch cấp, tên hộ kinh doanh Nguyễn Anh S.
- 01 (một) bản phô tô chứng minh nhân dân mang tên Đào Thị Hải A.
- 01 (một) bản phô tô chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Anh S.
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD234904 do UBND huyện P cấp ngày 27/12/2022 mang tên chủ sở hữu là Nguyễn Anh S và Đào Thị Hải A.
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM193957 do UBND huyện P cấp ngày 02/05/2013 mang tên chủ sở hữu là Nguyễn Anh S và Đào Thị Hải A.
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO999813 do UBND huyện P cấp ngày 31/05/2013 mang tên chủ sở hữu là Nguyễn Anh S và Đào Thị Hải A.
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN749730 do UBND huyện P cấp ngày 28/06/2018 mang tên chủ sở hữu là Nguyễn Anh S và Đào Thị Hải A.
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN749731 do UBND huyện P cấp ngày 28/06/2018 mang tên chủ sở hữu là Nguyễn Anh S và Đào Thị Hải A.
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V679448 do UBND huyện P cấp ngày 16/10/2003 mang tên chủ sở hữu là Nguyễn Anh S và Đào Thị Hải A.
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB982262 do UBND thành phố V cấp ngày 14/09/2021 mang tên chủ sở hữu là Nguyễn Anh S và Đào Thị Hải A.
- 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai SONATA biển số 19A - 171.57, số khung: KMHE341CBHA356631, số máy: G4NAHA608003, xe đã qua sử dụng; 01 (một) Biên lai thu tiền phí sử dụng đường bộ, ngày 19/05/2022 của Trung tâm Đ2, người nộp: Trần Quang T, BKS: 19A-171.57; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 02/03/2023. Nội dung có ghi: “Trần Quang T, nơi thường trú: Khu D, xã V, H” có bán, cho, tặng Nguyễn Anh S xe ô tô HUYNDAI SONATA, biển số 19A - 171.57. Cuối giấy có chữ ký và ghi họ tên “Trần Quang T”; 01 (một) Biên nhận thế chấp của Trần Quang T, CMND số [...], thế chấp xe ô tô con BKS 19A - 171.57 tại Ngân hàng TMCP V2 (V3) ngày 19/05/2022; 01 (một) bản phô tô Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 025139, biển số đăng ký 19A - 171.57; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định No/DA 1374107 cấp ngày 19/05/2022, có ghi Biển đăng ký 19A - 171.57.
- 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA màu đen biển số 30V-1669, số khung: 016548, số máy: 0150144, xe đã qua sử dụng; 01 (một) Đăng ký xe ô tô số 203630, do phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 31/12/2009, có ghi tên chủ xe ĐỊNH TRỌNG LÂM, biển số đăng ký 30V - 1669; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định No/DA 5783671 cấp ngày 21/7/2023, có ghi Biển đăng ký 30V1669; 01 (một) Biên lai thu tiền thuế, phí, lệ phí, ngày 21/07/2023 của Trung tâm Đ3, có ghi người nộp tiền: Đinh Trọng L1, Biển số ĐK: 30V-1669; 01 (một) Bản phô tô Giấy chứng minh nhân dân, số [...], do Công an thành phố H cấp ngày 26/9/2009, có ghi họ tên: Đinh Trọng L1; 01 (một) Bản phô tô Sổ hộ khẩu, có ghi họ tên chủ hộ: Đinh Trọng L1; 01 (một) hợp đồng mua bán xe ô tô BKS 30V - 1669, ghi ngày 20/12/2015 giữa bên bán là Đinh Trọng L1, Nguyễn Thị Lan A1 với bên mua là Nguyễn Anh S.
- 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu THACO, số loại K165 biển số 29H-832.19, số khung: RNHA500BKFC047530, số máy: JT667904, xe đã qua sử dụng; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29 001731, do Công an huyện G - Công an thành phố H cấp ngày 11/10/2022, có ghi tên chủ xe PHAN THẾ SƠN, biển số đăng ký 29H - 832.19; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định, No/DA 1883947, cấp ngày 29/8/2022, có ghi Biển đăng ký: 50LD-10261; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 02/8/2023. Nội dung có ghi: “Nguyễn Văn C, nơi thường trú: P - P - Phú Thọ” có bán, cho, tặng Nguyễn Anh S xe ô tô nhãn hiệu THACO – K165, biển số 29H-832.19. Cuối giấy có chữ ký và ghi họ tên “Nguyễn Văn C”.
- 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA FRONTIER biển số 98C-037.73, số khung: KN3HAP7352K017845, số máy: JT388772, xe đã qua sử dụng; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe ô tô, số 009575, do phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh B cấp ngày 22/07/2013, có ghi tên chủ xe Phạm Công T3, biển số đăng ký 98C - 037.73; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định No/DA 1969988 cấp ngày 06/6/2022, có ghi Biển đăng ký 98C-037.73; 01 (một) Biên lai thu tiền phí sử dụng đường bộ, ngày 06/06/2022 của Trung tâm Đ4, có ghi người nộp: Phạm Công T3, BKS 98C-037.73; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 28/4/2023. Nội dung có ghi: “Nguyễn Văn T2, nơi thường trú: Khu F - S - T - Phú Thọ” có bán, cho, tặng Nguyễn Anh S xe ô tô, biển số 98C-037.73. Cuối giấy có chữ ký và ghi họ tên “Nguyễn Văn T2".
- 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu TRANSINCOS biển số 51B - 290.65, số khung: KMJRL18CP900386, số máy: D6AC5110497, xe đã qua sử dụng; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe ô tô, số 494110, do phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H, cấp ngày 24/07/2019, có ghi tên chủ xe Trần Ngọc K, biển số đăng ký 51B-290.65; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định No/DA 1336639 cấp ngày 07/02/2023, có ghi Biển đăng ký 51B-290.65; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 12/5/2023. Nội dung có ghi: “Lê Văn H nơi thường trú: Tổ A, cốc lếu, lào cai” có bán, cho, tặng Nguyễn Anh S xe ô tô, biển số 51B-290.65. Cuối giấy có chữ ký và ghi họ tên “Lê Văn H”.
- 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA Camrry biển số 19A-034.83, số khung: MCV309000752, số máy: 1MZ1616592, xe đã qua sử dụng; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe ô tô, số 010089, do phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh P, cấp ngày 03/12/2015, có ghi tên chủ xe Vũ Việt D1, biển số đăng ký 19A - 034.83; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định No/DA 2781630 cấp ngày 28/05/2020, có ghi Biển đăng ký: 19A - 034.83; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 21/9/2023. Nội dung có ghi: “Lê Văn B nơi thường trú: K-6-x-Phú Lộc PN P” có bán, cho, tặng Nguyễn Anh S xe ô tô, biển số 19A-03483. Cuối giấy có chữ ký và ghi họ tên “Lê Văn B”; 01 (một) Bản phô tô Giấy chứng minh nhân dân, số [...], do Công an P cấp ngày 24/11/2014, có ghi họ tên: Vũ Việt D1.
- 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai UNIVERSE biển số 25B-001.81, số khung: KMJKJ18NP8C902580, số máy: D6CC8155293, xe đã qua sử dụng; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 25 000143, do Công an huyện T - Công an tỉnh L, cấp ngày 10/06/2023, có ghi tên chủ xe Nguyễn Thị V, biển số đăng ký 25B - 001.81; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định No/DA 1728133 cấp ngày 05/10/2023, có ghi Biển đăng ký: 25B - 001.81; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 17/12/2023. Nội dung có ghi: “Phí Văn H2, nơi thường trú: Đội 7 T - V - Vĩnh Phúc” có bán, cho, tặng Nguyễn Anh S xe ô tô, biển số 25B - 001.81. Cuối giấy có chữ ký và ghi họ tên “Phí Văn H2”; 01 (một) hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 16/12/2023 của Văn phòng C2. Nội dung hợp đồng: Bên bán xe: Nguyễn Thị V1, bên mua xe: Phí Văn H2, tài sản mua bán: xe ô tô, biển số 25B - 001.81.
- 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu MAZDA màu đỏ biển số 19A-180.26, số khung: 5326JC081229, số máy: PY20959211, xe đã qua sử dụng; 01 (một) Biên nhận thế chấp của Nguyễn Thị Thanh L, CMND số [...], địa chỉ: khu A thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, thế chấp xe ô tô con biển kiểm soát số 19A - 180.26, số khung: 5326JC081229, số máy: PY20959211 tại Ngân hàng TMCP Q1 (V4) ngày 31/07/2020: 01 (một) bản phô tô Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026610, biển số đăng ký 19A - 180.26; 01 (một) bản phô tô Giấy chứng nhận bảo hiểm số 20114310 cấp ngày 24/6/2020, chủ xe Nguyễn Thị Thanh L, địa chỉ: khu A thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, số biển kiểm soát: 19A - 180.26.
- 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning biển số 19A-054.84, số khung: 5 RNYTB51M5DC041088, số máy: G4LADP112659, xe đã qua sử dụng.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 19P1-270.49, số khung: RLHJA3909HY355512, số máy: JA39E-0355541, xe đã qua sử dụng; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 18/10/2023. Nội dung có ghi: “Lê Văn L2, nơi thường trú: Khu I xã P” có bán, cho, tặng Nguyễn Anh S xe mô tô, biển số 19P1- 270.49. Cuối giấy có chữ ký và ghi họ tên “Lê Văn L2”; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 19 007141 do Công an huyện P - Công an tỉnh P cấp ngày 28/02/2018, tên chủ xe: Lê Văn L2, biển số đăng ký: 19P1 - 270.49.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 19P1-310.48, số khung: RLHJA3918KY242263, số máy: JA39E-1102989, xe đã qua sử dụng; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 19/02/2023. Nội dung có ghi: Vũ Xuân D2, nơi thường trú khu 6 xã P, P, Phú Thọ, Số CMND,CCCD 13149913 có bán, cho, tặng Nguyễn Anh S xe mô tô, biển số 19P1-310.48, cuối giấy có chữ ký và ghi họ tên “Vũ Xuân D2”; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô, số 020107 do Công an huyện P - Công an tỉnh P cấp ngày 24/7/2019, tên chủ xe: Đỗ Thị D3, biển số đăng ký 19P1 - 310.48.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 19P1-412.82, số khung: RLHJA3923NY246959, số máy: JA39E-2743961, xe đã qua sử dụng; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 13/04/2023. Nội dung có ghi: Lê Khánh T4, nơi thường trú khu G thị trấn P, P, Phú Thọ Số CMND,CCCD [...] có bán, cho, tặng Nguyễn Anh S xe mô tô, biển số 19P1 - 412.82, cuối giấy có chữ ký và ghi họ tên “Lê Khánh T4”; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 19 007141 do Công an huyện P - Công an tỉnh P cấp ngày 04/04/2023, tên chủ xe: Phạm Xuân N1, biển số đăng ký 19P1 - 412.82.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển số 19E1-019.73; 01 (một) Giấy bán xe đề ngày 09/02/2023, cuối giấy ghi họ tên “Lê Văn H3”; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 011419 cấp ngày 25/06/2013.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 19P1-221.75; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 09/6/2023, cuối giấy ghi họ tên “Vũ Văn X”; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 007743 cấp ngày 21/09/2016.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 19P1-246.19; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 24/11/2023, cuối giấy ghi họ tên “Đào Quang H4”; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 010964 cấp ngày 31/05/2017.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 19P1-225.27; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 01/02/2019, cuối giấy ghi họ tên “Nguyễn Văn K1”; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 008237 cấp ngày 19/10/2016.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Balde, biển số: 19M1-007.77; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 19/04/2023, cuối giấy ghi họ tên “Trần Quốc M”; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 011100 cấp ngày 13/4/2017.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vison, biển số: 21B1 – 290.96; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 26/10/2023, cuối giấy ghi họ tên “Lê Anh T6”; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 031331 cấp ngày 05/09/2014.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 19P1-300.01; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 08/10/2022, cuối giấy ghi họ tên “Phạm Như B1”.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 19P1-191.72; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 10/10/2021, cuối giấy ghi họ tên “Hán Anh D4".
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 19P1-217.91; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 006891 cấp ngày 27/07/2016.
- Đối với: 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 02/03/2023. Nội dung có ghi: “Trần Quang T, nơi thường trú: Khu D, xã V, H” có bán, cho, tặng Nguyễn Anh S xe ô tô HUYNDAI SONATA, biển số 19A - 171.57. Cuối giấy có chữ ký và ghi họ tên “Trần Quang T” đây là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu để lưu hồ sơ vụ án.
- Đối với: số tiền 1.013.130.000đ (Một tỷ không trăm mười ba triệu một trăm ba mươi nghìn đồng). Trong đó:
- Đối với: số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) tạm giữ của Trần Quang T. Đây là số tiền gốc dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với: số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) tạm giữ của Lưu Văn T1, số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) tạm giữ của Trần Quang N; số tiền 180.000.000₫ (một trăm tám mươi triệu đồng) tạm giữ của Lê Thị H1; số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) tạm giữ của Lê Văn H. Tổng số tiền 630.000.000₫ là số tiền gốc do anh T1, anh N, chị H1, anh Hoàn t lại cho bị cáo S, số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo S là phù hợp.
- Đối với số tiền: 23.130.000 đồng thu giữ khi khám xét khẩn cấp không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho S nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
- Đối với số tiền: 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) là tiền lãi 02 tháng S đã nhận của anh T, trong đó: Số tiền lãi đến 20% theo quy định của Bộ luật dân sự là: 9.990.000 đồng là khoản lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là khoản tiền phát sinh từ tội phạm cần tịch thu sung quỹ nhà nhà nước; Số tiền lãi S thu lời bất chính trên 20%/01 năm là: 50.010.000 đồng là khoản tiền mà người phạm tội thu lợi bất chính của người vay nên cần trả lại cho anh Trần Quang T.
- Đối với: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 Pro Max, IMEI: 35 391610 639936 3, gắn sim số 0984129499, điện thoại đã qua sử dụng. Đây là điện thoại sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước và tịch thu tiêu hủy sim số 0984129499.
- Đối với: 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA FRONTIER biển số 98C-037.73; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 009575 cấp ngày 22/07/2013; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định No/DA 1969988, cấp ngày 06/6/2022; 01 (một) Biên lai thu tiền phí sử dụng đường bộ, ngày 06/06/2022; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 28/4/2023, cuối giấy có chữ ký và ghi họ tên “Nguyễn Văn T2” không liên quan đến hành vi phạm tội. Do S có đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ và giữa S và T2 có thỏa thuận vay mượn, nhưng hiện nay T2 chưa trả tiền cho S vì vậy cần trả lại tài sản và giấy tờ trên cho S tiếp tục quản lý.
- Tịch thu để lưu hồ sơ vụ án: 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 02/03/2023. Nội dung có ghi: “Trần Quang T, nơi thường trú: Khu D, xã V, H” có bán, cho, tặng Nguyễn Anh S xe ô tô HUYNDAI SONATA, biển số 19A - 171.57. Cuối giấy có chữ ký và ghi họ tên “Trần Quang T”.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).
- Trả lại cho Nguyễn Anh S số tiền: 630.000.000 đồng (Sáu trăm ba mươi triệu đồng)
- Trả lại cho Nguyễn Anh S số tiền 23.130.000₫ (Hai mươi ba triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 9.990.000 đồng (Chín triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).
- Trả lại cho anh Trần Quang T: số tiền 50.010.000 đồng (Năm mươi triệu không trăm mười nghìn đồng).
- Tịch thu để sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 Pro Max, IMEI: 35 391610 639936 3;
- Tịch thu tiêu hủy sim số 0984129499.
- Trả lại cho Nguyễn Anh S: 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA FRONTIER biển số 98C-037.73; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 009575 cấp ngày 22/07/2013; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định No/DA 1969988, cấp ngày 06/6/2022; 01 (một) Biên lai thu tiền phí sử dụng đường bộ, ngày 06/06/2022; 01(một) Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 28/4/2023, cuối giấy có chữ ký và ghi họ tên “Nguyễn Văn T2”.
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- VKSND huyện Phù Ninh;
- Công an huyện Phù Ninh;
- Cơ quan THAHS- CA huyện Phù Ninh;
- Cơ quan THADS huyện Phù Ninh;
- Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
- UBND xã Phù Ninh;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HS+VP.
Đối với toàn bộ vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại cho chủ sở hữu và người quản lý hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét gải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Anh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh đề nghị đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh S phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh S số tiền 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Anh S.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30/5/2024 và biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/6/2024).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Anh S phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
|
Nơi nhận: |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Việt Giang |
Quyết định số 30/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự sơ thẩm)
- Số quyết định: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
