Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Số: 30/2024/QÐST-HNGĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Phú Thọ, ngày 24 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Ngọc Tuấn

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thanh Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 82/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 60/2024/QÐST - HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1985; nơi đăng ký thường trú: Khu L, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nơi ở hiện nay: Số C, đường T, ngõ G, làng G, quận H, thành phố Đ, Đài Loan.

Người được chị C ủy quyền nhận các văn bản tố tụng: Chị Lê Thị Bình T, sinh năm 1996; nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ở hiện nay: Số B, ngõ A, đường N, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội.

2. Anh Hà Văn A, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu L, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Chị C, chị T và anh A đều đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 19/01/2024 và các lời khai tiếp theo, chị Hoàng Thị C và anh Hà Văn A trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh A và chị C đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 23/6/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc. Tháng 3/2017, chị C đi làm việc tại Đài Loan. Đầu năm 2021, giữa anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống khiến tình cảm vợ chồng không còn như trước. Mặc dù anh chị đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có nhiều tiến triển và anh chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Hiện nay, nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị thống nhất làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ công nhận anh chị thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Anh chị xác nhận có 01 con chung là cháu Hà Thị Hoa H, sinh ngày 16/02/2015. Hiện cháu H đang ở cùng anh A. Sau khi ly hôn, anh chị thỏa thuận anh A là người trực tiếp nuôi cháu H.

- Về cấp dưỡng: Anh chị thỏa thuận chị C có trách nhiệm cấp dưỡng 01 triệu đồng/tháng để nuôi cháu H cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.

- Về con riêng: Anh chị xác nhận chị C có 01 con riêng là cháu Lê Hoàng Phúc L, sinh ngày 11/8/2022.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về lệ phí, chi phí tố tụng tại Tòa án giải quyết việc ly hôn: Anh chị thống nhất thỏa thuận chị C chịu toàn bộ.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án tiến hành theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung việc dân sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hà Văn A và chị Hoàng Thị C.

- Về con chung: Giao cháu Hà Thị Hoa H, sinh ngày 16/02/2015 cho anh A trực tiếp nuôi sau khi ly hôn cho đến khi cháu H thành niên và lao động tự túc được. Chị C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H 01 triệu đồng/tháng kể từ tháng 8/2024 với phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

- Về con riêng: Công nhận cháu Lê Hoàng Phúc L, sinh ngày 11/8/2022 là con riêng của chị C. Giao cháu L cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung, công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân, nợ chung và các nghĩa vụ tài chính khác: Anh A và chị C không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị C chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ nhận định:

[1] Về tố tụng: Trong Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị Hoàng Thị C và anh Hà Văn A thể hiện chị C đang ở Đài Loan có xác nhận của Văn phòng K tại Đ. Anh A, chị C có nơi đăng ký thường trú tại tỉnh Phú Thọ. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết việc dân sự là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 29, khoản 3 điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh A và chị C đều có đề nghị không hòa giải và giải quyết vắng mặt anh chị tại Tòa án nên Tòa án không tiến hành hòa giải và mở phiên họp vắng mặt anh chị theo quy định tại khoản 4 Điều 207, khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn A và chị Hoàng Thị C đăng ký kết hôn ngày 23/6/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc. Tháng 3/2017, chị C đi làm việc tại Đài Loan. Đầu năm 2021, giữa anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống khiến tình cảm vợ chồng không còn như trước. Mặc dù anh chị đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có nhiều tiến triển và anh chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Hiện nay, nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị thống nhất làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ công nhận anh chị thuận tình ly hôn. Việc anh A và chị C thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, xuất phát từ ý chí của cả hai bên, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Anh A và chị C xác nhận có 01 con chung là cháu Hà Thị Hoa H, sinh ngày 16/02/2015. Hiện cháu H đang sống cùng anh A. Sau khi ly hôn, anh chị thỏa thuận anh A là người trực tiếp nuôi cháu H, điều này phù hợp với nguyện vọng được ở với bố của cháu H. Vì vậy, cần công nhận thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con chung của anh A và chị C.

[2.3] Về cấp dưỡng: Anh A và chị C thỏa thuận chị C có trách nhiệm cấp dưỡng 01 triệu đồng/tháng để nuôi cháu H cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi là thỏa thuận hợp pháp cần được công nhận.

[2.4] Về con riêng: Trong thời kỳ hôn nhân với anh A, chị C sinh cháu Lê Hoàng Phúc L vào ngày 11/8/2022 tại Đài Loan. Anh A và chị C đều xác nhận cháu Lê Hoàng Phúc L là con riêng của chị C, điều này phù hợp với thời gian sống ly thân của anh A và chị C, cụ thể: Anh A nhập cảnh về Việt Nam từ ngày 29/11/2018 cho đến nay không có thông tin xuất cảnh ra nước ngoài còn chị C thì xuất cảnh từ ngày 23/02/2018, đến nay chưa nhập cảnh trở lại Việt Nam theo thông tin Cục Q cung cấp tại Công văn số 18020/QLXNC-P3 ngày 19/7/2024. Vì vậy, cần công nhận cháu L là con riêng của chị C và giao cháu L cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

[2.5] Về tài sản chung, công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân, nợ chung và các nghĩa vụ tài chính khác: Anh A và chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

[3] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh A và chị C thống nhất chị C chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc ly hôn cần được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 29; khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 37; điểm h khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 149; các Điều 361, 362, 365, 366, 367, 369, 370, 371 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 55, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123, 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hà Văn A và chị Hoàng Thị C.

[2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:

Giao cháu Hà Thị Hoa H, sinh ngày 16/02/2015 cho anh Hà Văn A trực tiếp nuôi sau khi ly hôn cho đến khi cháu H thành niên và lao động tự túc được.

Chị Hoàng Thị C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H 01 (một) triệu đồng/tháng kể từ tháng 8/2024 với phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

[3] Về con riêng: Công nhận cháu Lê Hoàng Phúc L, sinh ngày 11/8/2022 là con riêng của chị Hoàng Thị C. Giao cháu L cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

[4] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Hoàng Thị C phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự. Xác nhận chị C đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000168 ngày 23/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ (do chị Lê Thị Bình T nộp thay).

[5] Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Thu Cúc;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: án văn, hồ sơ việc dân sự.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Đỗ Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 30/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung

  • Số quyết định: 30/2024/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị C thuận tình ly hôn Hà Văn A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger