Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

Số: 298/QĐ-TA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TP. Sóc Trăng, ngày 27 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

  1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Uyên.
  2. Thư ký phiên họp: Bà Văn Ngọc Hân là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 458/QĐ -TA ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với:

Phạm Văn T (tên gọi khác: Thanh Già); sinh năm 1994;

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 01/12

Nghề nghiệp: không.

Hộ khẩu thường trú: Số E, đường D, khóm C, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Chỗ ở hiện nay: Phòng số 9, nhà T, đường V, khóm D, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Tiền án, tiền sự: không;

Con ông Phạm Văn M và bà Huỳnh Thị N.

Ông Phạm Văn T vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

  1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đặng Hoàng K, Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S là người đại diện theo ủy quyền (có mặt).
  2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên họp: Bà Đồ Ngọc Tuyền, Kiểm sát viên (có mặt).
  3. Đại diện Công an phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng: Ông Vong Ri T1 – Cán bộ Công an phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

NHẬN THẤY:

Theo lời trình bày của ông Phạm Văn T trong quá trình lập hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

Vào ngày 01/7/2024, ông Phạm Văn T bị Chủ tịch UBND phường B1, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định số 26/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý. Vào ngày 11/7/2024, Công an phường B, thành phố S tiến hành mời Phạm Văn T làm việc và xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với ông T. Kết quả ông Phạm Văn T dương tính với ma tuý nên đề nghị Trạm y tế phường 2 xác định tình trạng nghiện ma tuý đối với ông T. Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 11/7/2024 của Trạm y tế Phường 2, thành phố S xác định ông Phạm Văn T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là M1 và H. Nên Công an phường B, thành phố S lập hồ sơ hướng dẫn ông T đến UBND phường B1, thành phố S đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng hết thời hạn theo quy định mà ông T vẫn không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do đó, Ủy ban nhân dân Phường B1, thành phố S lập biên bản vi phạm số 14/BB-VPHC ngày 19/7/2024 về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Theo kết quả tra cứu tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật thuộc Sở Y tại Công văn số 468/KSBT-AIDS ngày 19/7/2024 thì ông Phạm Văn T có tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật thuộc Sở Y từ ngày 23/11/2023 đến hết ngày 22/5/2024 thì ông T tự ý bỏ điều trị.

Đến ngày 01 tháng 8 năm 2024, Phòng lao động Thương binh và Xã hội thành phố S có văn bản đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với ông Phạm Văn T .

  • * Tại phiên họp:
  • - Đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố S ông Đặng Hoàng K trình: Ông Phạm Văn T có nơi cư trú ổn định, là người đủ 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính đầy đủ, ông T nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội và đã được xác định là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện và bị lập biên bản vi phạm. Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý; Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2014, 2017, 2020) và Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T với thời gian chấp hành là 20 tháng.
  • - Ý kiến của đại diện Công an phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng: Ông Phạm Văn T là người nghiện ma tuý nhưng không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện nên đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S đưa ông Phạm Văn T đi cai nghiện bắt buộc.
  • - Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng: Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T đã được tiến hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền. Về nhân thân, ông Phạm Văn T không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình lập hồ sơ ông T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Từ những phân tích trên, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T với thời gian 20 tháng.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của Kiểm sát viên:

[1]. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T đã tuân thủ đúng về đối tượng áp dụng, thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị, trình tự, thủ tục lập hồ sơ theo quy định tại Khoản 1 Điều 96, Điều 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2014, 2017, 2020); Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý và các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý. Các tài liệu có trong hồ sơ được lập đầy đủ, đúng theo mẫu quy định tại Nghị định 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 và Nghị định số 109/2021/NĐ-CP ngày 08/12/2021 của Chính phủ quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy và hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy.

[2]. Về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính: Lần cuối ông Phạm Văn T sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện và lập biên bản là ngày 09/7/2024 nên còn trong thời hiệu xử lý vi phạm hành chính theo điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

[3]. Trong quá trình lập hồ sơ, ông Phạm Văn T thừa nhận ông có sử dụng trái phép chất ma tuý và lần sau cùng ông T sử dụng trái phép chất ma tuý bị phát hiện là ngày 09/7/2024. Trước khi ông sử dụng ma tuý bị phát hiện thì ông Phạm Văn T đang là người bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái pháp chất ma tuý theo Quyết định số 26/QĐ-UBND ngày 01/7/2024 của UBND phường B1, thành phố S. Khi Công an phường B mời ông T lên làm việc, có tiến hành test nhanh chất ma tuý, ghi lời khai, viết bản tường trình và được Trạm y tế P, thành phố S xác định là người nghiện ma tuý.

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: ông Phạm Văn T có sử dụng trái phép chất ma túy, ông T là người có nơi cư trú ổn định. Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 11/7/2024 của Trạm y tế Phường 2, thành phố S xác định ông Phạm Văn T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là M1 và H nên hướng dẫn ông T đến UBND phường B1, thành phố S đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng hết thời hạn theo quy định mà ông T vẫn không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do đó, Ủy ban nhân dân Phường B1, thành phố S lập biên bản vi phạm số 14/BB-VPHC ngày 19/7/2024 về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

Ông Phạm Văn T có nơi cư trú ổn định, là người đã thành niên (đủ 18 tuổi), có năng lực trách nhiệm hành chính đầy đủ, ông T nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội và đã được xác định là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý; Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2014, 2017, 2020).

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T để giúp ông T dừng sử dụng chất ma túy, phục hồi thể chất, tinh thần, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi để chấm dứt việc sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp với quy định pháp luật được Tòa án chấp nhận.

Về nhân thân, ông Phạm Văn T không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình lập hồ sơ ông T đã tự nguyện khai báo nên đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Từ những phân tích trên xét thấy đề nghị của đại diện Phòng Lao động Thương Binh và Xã hội thành phố S và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T với thời gian 20 tháng là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật nên được Tòa án chấp nhận.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2014, 2017, 2020);

Căn cứ vào khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý;

Căn cứ vào Điều 20, Điều 23, 24, 25, 31, 32, 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Số H, đường L, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, đối với: Ông Phạm Văn T ; sinh năm 1994;
  2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
  4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
  5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S phối hợp với Công an thành phố S, tỉnh Sóc Trăng đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND thành phố Sóc Trăng;
  • - Công an thành phố Sóc Trăng ;
  • - Phòng Lao động - Thương binh
  • và Xã hội thành phố Sóc Trăng;
  • - Người bị áp dụng;
  • - UBND P2, thành phố ST,
  • tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ vụ việc.

THẨM PHÁN

Nguyễn Thị Thuý Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 298/QĐ-TA ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

  • Số quyết định: 298/QĐ-TA
  • Quan hệ pháp luật: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đề nghị
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger