TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày 25-03-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Mạnh
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thu Anh và ông Phạm Quốc Hưng
- Thư ký phiên tòa:
- + Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà Đặng Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- + Thư ký phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Hoàng S - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà:
- + Tại điểm cầu trung tâm: Ông Đặng Quang Q - Kiểm sát viên
- + Tại điểm cầu thành phần: Ông Đặng Đức A - Chuyên viên
Ngày 25 tháng 03 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn H (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh ngày 20 tháng 02 năm 2006, tại huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi thường trú: thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn lớp: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phạm Văn H1 và bà Trịnh Thị Q1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 26/12/2024, hiện đang tạm giam tại khu vực giam giữ M, Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
- Người chứng kiến: Nguyễn Công H2. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 05 phút ngày 26/12/2024 tại khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, tổ công tác đồn Biên phòng T, thành phố M, Bộ đội biên phòng Quảng Ninh, phát hiện bắt quả tang Phạm Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại túi trong áo khoác trong bên trái của H đang mặc 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có 05 túi nilon kích thước (2,5 x 2,5)cm, đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, gắn sim số 0523.902.469; 0393.505.872 và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 2075/KL-KTHS, ngày 28/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: chất tinh thể màu trắng có trong 05 túi nilon ghi thu của Phạm Văn H gửi giám định là ma túy, loại Ketamine; có tổng khối lượng 3,05 gam (ba phẩy không năm gam).
Quá trình điều tra Phạm Văn H khai nhận: tối ngày 25/12/2024, tại quán nước ở khu vực ngã 5, thuộc huyện K, thành phố Hải Phòng Hào có quen một người đàn ông tên P (không rõ lai lịch, địa chỉ) có số điện thoại 0566.110.xxx, qua nói chuyện, P rủ H đến thành phố M, tỉnh Quảng Ninh làm thuê, H đồng ý. Đến khoảng 12 giờ ngày 26/12/2024, P dẫn H đến khu vực ngã 3, Quán T, thành phố Hải Phòng rồi đưa cho H 01 (một) gói giấy chứa ma túy “Ke” và bảo H cất giấu đem đến thành phố M để cùng nhau sử dụng, H đồng ý và cất giấu túi ma túy vào trong túi áo khoác đang mặc, rồi cả hai bắt xe khách đi thành phố M. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, khi đến quán cafe “Trang Trà C” ở khu T, phường T, thành phố M, P bảo H ngồi ở quán uống nước, rồi P bỏ đi đâu không rõ, một lúc sau H bị tổ công tác đồn Biên phòng T kiểm tra phát hiện, bắt giữ.
Người chứng kiến ông Nguyễn Công H2 có lời khai: vào hồi 18 giờ 05 phút, ngày 26/12/2024, tại khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, ông được mời chứng kiến cán bộ đồn Biên phòng T, thành phố M, Bộ kiểm tra hành chính 01 người thanh niên khai tên là Phạm Văn H, sinh ngày 20/02/20026, nơi thường trú: thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi trong áo khoác trong bên trái của H đang mặc 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có 05 (năm) túi nilon kích thước (2,5 x 2,5) cm, đều chứa chất tinh thể màu trắng, H khai chất tinh thể màu trắng là ma túy “Ke”, H được đối tượng tên P (không rõ nhân thân, lai lịch) đưa cho từ khu vực Quán T, thành phố Hải Phòng để mang đến thành phố M, tỉnh Quảng Ninh sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Sau đó, cán bộ đồn Biên phòng lập biên bản bắt, thu giữ vật chứng, ngoài ra còn tạm giữ của H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng.
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 18 giờ 30 phút, ngày 26/12/2024 của đồn Biên phòng T, Bộ thể hiện: hồi 18 giờ 05 phút, ngày 26/12/2024, tại khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh đồn Biên phòng Trà Cổ, thành phố M kiểm tra hành chính 01 người thanh niên khai tên là Phạm Văn H, sinh ngày 20/02/20026, nơi thường trú: thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi trong áo khoác trong bên trái của
H đang mặc 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có 05 túi nilon kích thước (2,5 x 2,5) cm, đều chứa chất tinh thể màu trắng, H khai chất tinh thể mầu trắng là ma túy “Ke” Hào được đối tượng tên P chưa rõ lai lịch nhân thân đưa cho từ khu vực Quán T, thành phố Hải Phòng mang sang thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Sau đó cán bộ T lập biên bản bắt, thu giữ ma túy, ngoài ra còn thu giữ của H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, gắn sim số 0523.902.469; 0393.505.872, 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng.
Bản cáo trạng số 586/CT-VKSMC ngày 19/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ quyền công tố Nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2024.
Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu cho tiêu hủy đối với hủy 01 (một) phong bì số 2075/KL-KTHS ngày 28/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q chứa ma túy và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định. Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, số Imel 1: 869802063528912, số Imel 2: 8698020635528904 gắn sim số 0523902469 và 0393505872; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng được gửi tại kho bạc.
Phần tranh luận: bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về chứng cứ: tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn H hoàn toàn nhận tội và khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
[3] Như vậy căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trước Tòa, lời khai của người chứng kiến, vật chứng vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 18 giờ 05 phút, ngày 26/12/2024, tại khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh Phạm Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,05 gam (ba phẩy không năm gam) ma túy loại Ketamine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
g. Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam.”
[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Ma túy là một loại độc dược rất nguy hiểm, nó tàn phá, hủy hoại sức khỏe, nhân cách và tính mạng con người, làm lây truyền các căn bệnh hiểm nghèo và là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an xã hội. Vì vậy, Nhà nước quy định độc quyền quản lý chất ma túy, bất cứ ai vi phạm sẽ bị pháp luật nghiêm trị.
Bị cáo Phạm Văn H là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy và điều cấm của pháp luật. Nhưng do tu dưỡng, rèn luyện bản thân kém, bất chấp điều cấm của pháp luật nên đã tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo không những vi phạm quy định của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo bị cáo trở thành người tốt.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thì thấy:
- - Tình tiết tăng nặng: không có.
- Tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt, tiền án tiền sự không có. Do đó, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự có thể phạt bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước nhưng xét bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[7] Về xử lý vật chứng: đối với 01 phong bì số 2075/KL-KTHS ngày 28/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q chứa ma túy và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định. Xét đây là chất Nhà nước cấm nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, số Imel 1: 869802063528912, số Imel 2: 8698020635528904 gắn sim số 0523902469; 0393505872 và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng được niêm phong tại Kho bạc. Xét đây là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[8] Các tình tiết khác của vụ án: đối với đối tượng đàn ông tên P có số điện thoại di động 0566.110.xxx, H khai là người đưa ma túy cho H, quá trình điều tra chưa làm rõ số điện thoại cũng như con người cụ thể nên chưa đủ căn cứ xử lý.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu nghĩa vụ án phí theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Phạm Văn H 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2024.
- Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+) Tịch thu cho tiêu hủy đối với hủy 01 phong bì số 2075/KL-KTHS ngày 28/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q chứa ma túy và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.
+) Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh có ốp nhựa dẻo trong suốt, số Imel 1: 869802063528912, số Imel 2: 8698020635528904 gắn sim số 0523902469; 0393505872 và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) được niêm phong tại Kho bạc. Theo biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số 17/BBBQ-CSĐT ngày
31/12/2024 giữa Kho bạc Nhà nước Móng Cái và Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố M.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng số 57/2025/THA ngày 20/02/2025 giữa Công an thành phố M và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).
- Về án phí và quyền kháng cáo: căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Mạnh |
Quyết định số 28/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số quyết định: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 18 tháng tù
