|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/KDTM-ST
Ngày 11/11/2024
V/v "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Ngâm và ông Lương Công Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Tiền – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 136/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần C1; Địa chỉ: A T, quận H, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lâm Minh C; Chức vụ: Cán bộ thu nợ Phòng TCTH Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 – Chi nhánh P; Địa chỉ: B H, Phường G, thành phố T, Phú Yên (Văn bản uỷ quyền số 16/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 05/01/2024 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần C1). Có mặt tại phiên toà.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Ngân V, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Căn cứ Hợp đồng cho vay hạn mức số 194/2023/HĐCVHM/NHCT560 ngày 09/10/2023 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 và chị Lê Thị Ngân V (với tư cách là Bên vay), anh Nguyễn Văn T (với tư cách Người liên đới trả nợ): Hạn mức cho vay không vượt quá 2.000.000.000 đồng; Thời hạn duy trì hạn mức là 12 tháng, kể từ ngày 09/10/2023 đến hết ngày 09/10/2024; Mục đích vay là bổ sung vốn mua bán hải sản khô, tươi lưu động, bán mắm các loại; lãi suất cho vay và lãi suất quá hạn thoả thuận tại từng Giấy nhận nợ.
Để đảm bảo cho khoản vay, anh Nguyễn Văn T và chị Lê Thị Ngân V có thế chấp tài sản cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 329, tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất: khu phố P, thị trấn H, huyện Đ (nay là phường H, thị xã Đ), tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 752742, số vào sổ cấp GCN: CH 03635 do Ủy ban nhân dân huyện Đ (nay là thị xã Đ) cấp ngày 30/12/2013, tặng cho anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ (nay là thị xã Đ) xác nhận ngày 03/12/2018 tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 194/2023/HĐBĐ/NHCT560/NN ngày 03/10/2023 được ký kết giữa các bên có đăng ký giao dịch bảo đảm.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, chị Lê Thị Ngân V và anh Nguyễn Văn T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ vào ngày 15/5/2024 nên Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có gửi thông báo nợ quá hạn yêu cầu anh Nguyễn Văn T và chị Lê Thị Ngân V thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 194/2023/HĐCVHM/NHCT560 ngày 09/10/2023 các bên đã ký kết nhưng vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết.
Do đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh Nguyễn Văn T và chị Lê Thị Ngân V phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 194/2023/HĐCVHM/NHCT560 ngày 09/10/2023 tính đến ngày 11/11/2024, tổng cộng là 2.127.327.967 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, nợ lãi: 127.327.967 đồng). Kể từ ngày 12/11/2024 cho đến khi trả xong số tiền trên, anh Nguyễn Văn T và chị Lê Thị Ngân V còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức số 194/2023/HĐCVHM/NHCT560 ngày 09/10/2023 và các Giấy nhận nợ được ký kết giữa các bên. Trong trường hợp anh Nguyễn Văn T và chị Lê Thị Ngân V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán số nợ nêu trên cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 194/2023/HĐBĐ/NHCT560/NN ngày 03/10/2023 được ký kết giữa các bên để thu hồi nợ.
Bị đơn chị Lê Thị Ngân V trình bày: Chị, anh Nguyễn Văn T và Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 có ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số 194/2023/HĐCVHM/NHCT560 ngày 09/10/2023: Hạn mức cho vay không vượt quá 2.000.000.000 đồng; Thời hạn duy trì hạn mức là 12 tháng, kể từ ngày 09/10/2023 đến hết ngày 09/10/2024; Mục đích vay là bổ sung vốn mua bán hải sản khô, tươi lưu động, bán mắm các loại; lãi suất cho vay và lãi suất quá hạn thoả thuận tại từng Giấy nhận nợ.
Để đảm bảo cho khoản vay, chị và anh Nguyễn Văn T có thế chấp tài sản cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 329, tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất: khu phố P, thị trấn H, huyện Đ (nay là phường H, thị xã Đ), tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 752742, số vào sổ cấp GCN: CH 03635 do Ủy ban nhân dân huyện Đ (nay là thị xã Đ) cấp ngày 30/12/2013, tặng cho anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ (nay là thị xã Đ) xác nhận ngày 03/12/2018 tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 194/2023/HĐBĐ/NHCT560/NN ngày 03/10/2023.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, chúng tôi đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 khởi kiện thì chị đồng ý theo yêu cầu của Ngân hàng là yêu cầu chị và anh Nguyễn Văn T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 194/2023/HĐCVHM/NHCT560 ngày 09/10/2023 tính đến ngày 11/11/2024, tổng cộng là 2.127.327.967 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, nợ lãi: 127.327.967 đồng). Kể từ ngày 12/11/2024 cho đến khi trả xong số tiền trên, chị và anh Nguyễn Văn T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức số 194/2023/HĐCVHM/NHCT560 ngày 09/10/2023 và các Giấy nhận nợ được ký kết giữa các bên.
Trong trường hợp chị và anh Nguyễn Văn T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán số nợ nêu trên cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 194/2023/HĐBĐ/NHCT560/NN ngày 03/10/2023 được ký kết giữa các bên để thu hồi nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, bị đơn chị Lê Thị Ngân V giữ nguyên ý kiến trình bày. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 466, 292, 293, 295, 298, 299 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 188 của Luật Đất đai; các Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần C1, buộc anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V phải trả tiền nợ gốc 2.000.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật, mỗi người phải có trách nhiệm trả ½ số tiền nợ gốc và tiền lãi theo quy định pháp luật. Trường hợp anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 được quyền yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 về Hợp đồng cho vay giữa cá nhân và tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố T, tỉnh Phú Yên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Về giải quyết vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Văn T để hòa giải và xét xử nhưng vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về hiệu lực của Hợp đồng: Hợp đồng cho vay hạn mức số 194/2023/HĐCVHM/NHCT560 ngày 09/10/2023 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 và chị Lê Thị Ngân V, anh Nguyễn Văn T có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực thi hành.
- Căn cứ Hợp đồng cho vay hạn mức số 194/2023/HĐCVHM/NHCT560 ngày 09/10/2023 được ký kết giữa các bên và các tài liệu, chứng cứ khác, đủ cơ sở xác định: Chị Lê Thị Ngân V và anh Nguyễn Văn T có vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần C1: Hạn mức cho vay không vượt quá 2.000.000.000 đồng; Thời hạn duy trì hạn mức là 12 tháng, kể từ ngày 09/10/2023 đến hết ngày 09/10/2024; Mục đích vay là bổ sung vốn mua bán hải sản khô, tươi lưu động, bán mắm các loại; lãi suất cho vay và lãi suất quá hạn thoả thuận tại từng Giấy nhận nợ. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, chị Lê Thị Ngân V và anh Nguyễn Văn T đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi cho Ngân hàng từ tháng 05/2024 cho đến nay, là vi phạm Hợp đồng cho vay các bên đã ký kết.
- Anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 62/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên nhưng tại thời điểm ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số 194/2023/HĐCVHM/NHCT560 ngày 09/10/2023 và các Giấy nhận nợ, anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V là vợ chồng, đều ký xác nhận khoản nợ vay nhằm mục đích kinh doanh. Do đó, xác định đây là khoản nợ chung của anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V trong thời kỳ hôn nhân là phù hợp với quy định tại Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 là có căn cứ chấp nhận, buộc anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 đến ngày 11/11/2024, tổng cộng là 2.127.327.967 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, nợ lãi: 127.327.967 đồng), mỗi người phải có trách nhiệm trả ½ số tiền nợ gốc và tiền lãi là 1.063.663.984 đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1.
- Kể từ ngày 12/11/2024 cho đến khi trả xong nợ gốc, anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V mỗi người còn phải tiếp tục trả ½ tiền lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức số 194/2023/HĐCVHM/NHCT560 ngày 09/10/2023 và các Giấy nhận nợ được ký kết giữa các bên.
- Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm, xét thấy: Việc thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay của anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 được lập thành văn bản và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng trình tự, quy định tại các Điều 297, 298, 317, 318, 319 của Bộ luật Dân sự, các bên không ai có ý kiến gì nên Hợp đồng thế chấp tài sản số 194/2023/HĐBĐ/NHCT560/NN ngày 03/10/2023 được ký kết giữa các bên phát sinh hiệu lực nên buộc các bên phải thi hành. Do đó, trường hợp anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 329, tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất: khu phố P, thị trấn H, huyện Đ (nay là phường H, thị xã Đ), tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 752742, số vào sổ cấp GCN: CH 03635 do Ủy ban nhân dân huyện Đ (nay là thị xã Đ) cấp ngày 30/12/2013, tặng cho anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ (nay là thị xã Đ) xác nhận ngày 03/12/2018 tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 194/2023/HĐBĐ/NHCT560/NN ngày 03/10/2023 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 và anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V để thu hồi nợ là có căn cứ theo quy định tại Điều 299, khoản 7 Điều 323 và Điều 368 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ Điều 157 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn T và chị Lê Thị Ngân V, mỗi người phải chịu số tiền 1.500.000 đồng. Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 đã nộp tạm ứng số tiền 3.000.000 đồng nên anh Nguyễn Văn T và chị Lê Thị Ngân V, mỗi người phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 số tiền 1.500.000 đồng.
[4] Về án phí: Anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật, hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 297, 298, 299, 317, 318, 319, 323, 368, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C1.
Buộc anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 đến ngày 11/11/2024, tổng cộng là 2.127.327.967 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, nợ lãi: 127.327.967 đồng), mỗi người phải có trách nhiệm trả ½ số tiền nợ gốc và tiền lãi là 1.063.663.984 đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1.
Kể từ ngày 12/11/2024 cho đến khi trả xong nợ gốc, anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V mỗi người còn phải tiếp tục trả ½ tiền lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức số 194/2023/HĐCVHM/NHCT560 ngày 09/10/2023 và các Giấy nhận nợ được ký kết giữa các bên và anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V.
Trường hợp anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 329, tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất: khu phố P, thị trấn H, huyện Đ (nay là phường H, thị xã Đ), tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 752742, số vào sổ cấp GCN: CH 03635 do Ủy ban nhân dân huyện Đ (nay là thị xã Đ) cấp ngày 30/12/2013, tặng cho anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ (nay là thị xã Đ) xác nhận ngày 03/12/2018 tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 194/2023/HĐBĐ/NHCT560/NN ngày 03/10/2023 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 và anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V để thu hồi nợ.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ Điều 157 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn T và chị Lê Thị Ngân V, mỗi người phải chịu số tiền 1.500.000 đồng. Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 đã nộp tạm ứng số tiền 3.000.000 đồng nên anh Nguyễn Văn T và chị Lê Thị Ngân V, mỗi người phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 số tiền 1.500.000 đồng.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ngân V, mỗi người phải chịu 43.909.919 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 số tiền 36.216.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002630 ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Vân |
Quyết định số 28/2024/KDTM-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số quyết định: 28/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Ngân hàng Công thương Việt Nam và bị đơn Lê Thị Ngân Vang