Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HS-ST

Ngày 16 - 11 - 2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lữ Thành Đồng.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Mỹ Linh.
  2. Nghề nghiệp: Giáo viên trường tiểu học Vĩnh Viễn 1.

  3. Ông Lê Minh Thật.
  4. Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí huyện Long Mỹ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trung – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại Phòng xét xử - Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/ HSST-QĐ, ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Minh K, sinh ngày 11 tháng 6 năm 2004 tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Ú và bà Nguyễn Kim Đ; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 12/7/2023 cho đến nay “có mặt".
  2. Nguyễn Quốc H, sinh ngày 06 tháng 12 năm 2002 tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị C; bị cáo chưa có vợ, con;

1

tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 12/7/2023 đến ngày 12/9/2023 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh, đến ngày 25/9/2023 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú “có mặt”.

  1. Lê Trọng P, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2005 tại huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quốc T và bà Lê Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam từ ngày 12/7/2023 cho đến nay “có mặt”.
  2. Nguyễn Tấn Đ1, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2005 tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 06 tháng 01 ngày; Nơi cư trú: ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị C1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú “có mặt”.
  3. - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Tấn Đ1:

    Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm ruộng là cha của bị cáo “có mặt”.

    - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tấn Đ1:

    Ông Nguyễn Văn V, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H2 “có mặt”.

  4. Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2005 tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 05 tháng 04 ngày; Nơi cư trú: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng S và bà Lê Thị Thùy A; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú “có mặt”.
  5. - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hoàng T1:

    Anh Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1983; nơi cư trú: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm ruộng là cha của bị cáo “có mặt”.

    - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng T1:

    Ông Nguyễn Văn V, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H2 “có mặt”.

- Bị hại: Anh Lê Phước H3, sinh năm 2007.

Nơi cư trú: Ấp I, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang “có mặt”.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Lê Hậu G, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Ấp I, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang là anh ruột bị hại “có mặt”.

2

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 25/7/2007
  2. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng “có mặt”.

  3. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1996. Đồng thời là người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Thanh T2 (cha ruột).
  4. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng “có mặt”.

  5. Anh Phạm Văn Ú, sinh năm: 1971.
  6. Nơi cư trú: Ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng “có mặt”.

  7. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1972.
  8. Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng “có mặt”.

  9. Anh Lê Anh V1, sinh năm: 2003.
  10. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng “có mặt”.

  11. Anh Bùi Đông T4, sinh năm: 2007.
  12. Nơi cư trú: Ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang “vắng mặt”.

    Người đại diện hợp pháp cho Bùi Đông T4: Ông Bùi Văn T5.

    Nơi cư trú: Ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang “vắng mặt”.

  13. Anh Hứa Phấn K1, sinh năm: 2007.
  14. Nơi cư trú: Ấp I, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang “có mặt”.

    Người đại diện hợp pháp cho Hứa Phấn K1: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1977 là mẹ ruột.

    Nơi cư trú: Ấp T, xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang “có mặt”.

  15. Anh Lê Hữu B, sinh năm: 2006.
  16. Nơi cư trú: Ấp I, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang “có mặt”.

    Người đại diện hợp pháp cho Lê Hữu B: Bà Hồ Thị Q, sinh năm 1979 là mẹ ruột.

    Nơi cư trú: Ấp I, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện của tổ chức nơi bị cáo Nguyễn Tấn Đ1 lao động, sinh hoạt: Đoàn thanh niên cộng sản H4 thị trấn Huỳnh Hữu N1.

- Đại diện của tổ chức nơi bị cáo Nguyễn Hoàng T1 lao động, sinh hoạt: Đoàn thanh niên cộng sản H4 xã M.

- Đại diện của tổ chức nơi bị hại Lê Phước H3 lao động, sinh hoạt: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã H4.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

3

Khoảng giữa tháng 3/2023, Nguyễn Tấn Đ1, sinh ngày 03/10/2005, nơi thường trú: ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng và Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 25/7/ 2007, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng có xuống xã V, huyện L chơi, trên đường về thì gặp Bùi Đông T4, sinh năm 2007, nơi thường trú: ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang và Nguyễn Văn B1, sinh ngày 14/01/2007, nơi thường trú: ấp I, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang chặn đường hăm dọa đòi đánh Đ1T2 do chạy xe nẹt pô, B1 còn nhắn tin đòi chém lộn với T2 nên dẫn đến mâu thuẫn.

Đến ngày 03/4/2023, T2 gọi điện thoại cho Đ1 rủ xuống trường C2 tại xã V, huyện L để chơi nếu có gặp nhóm của T4, B1 thì giải quyết mâu thuẫn thì Đ1 đồng ý. Sau đó, Đ1 cùng với Phạm Minh K, sinh ngày 11/6/2004, nơi thường trú: ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng và Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 30/10/2005, nơi thường trú: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng uống cà phê ở quán S1 thuộc huyện M, tỉnh Sóc Trăng, tại đây Đ1 rủ K, Trọng ngày 04/4/2023 đi qua xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang để thăm bạn gái và tìm nhóm B1, T4 giải quyết mâu thuẫn, tất cả đồng ý. Đến khoảng 20 giờ ngày 03/4/2023, Đ1 cùng với K chạy tới nhà của Trọng nhậu, trong lúc nhậu cả 03 tiếp tục rủ nhau ngày 04/4/2023 đi qua xã V, huyện L để thăm bạn gái và tìm nhóm B1, T4 giải quyết mâu thuẫn. Đến khoảng 07 giờ ngày 04/4/2023, T1 điện thoại rủ Nguyễn Quốc H, sinh ngày 06/12/2002, nơi thường trú: ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng nói “anh H có đi chung với anh Đ1 không?”, H trả lời “vụ mâu thuẫn với Hậu G phải không”, T1 nói tiếp “anh Đ1 rủ xuống dưới Hậu Giang thăm bạn gái sẵn gặp tụi nó giải quyết mâu thuẫn luôn” thì H trả lời “ok để anh chạy về đi cùng”, H hỏi “có mang đồ theo không”, T1 mới nói “em có mang cây dao bấm à”. Lúc này HLê Trọng P, sinh ngày 23/3/2005, nơi thường trú: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng đang ngồi uống cà phê nên H rủ P đi theo đánh nhau ở huyện L, tỉnh Hậu Giang thì P đồng ý. Sau đó, H chở P về phòng trọ lấy 01 cây dao tự chế bằng sắt dài hơn 01m bỏ vào giỏ đựng cần câu rồi đi về hướng huyện M để đợi KT1, tại đây H chặt 01 khúc tre khô dài 1,43m bỏ vào trong túi cần câu để túi cân thẳng ra tránh bị phát hiện cây dao tự chế.

Khi đi, T2 chở Đ1 bằng xe mô tô hiệu Sirus biển kiểm soát 83MF-005.67, H chở P bằng xe mô tô hiệu Raider biển kiểm soát 83T1-097.32, H có mang theo một cây dao tự chế bỏ trong cái túi cần câu rồi mang trên vai, T1 chở K bằng xe mô tô Exciter biển kiểm soát 83P3-425.10, T1 mang theo một cây dao bấm dạng xếp bỏ trong túi quần.

4

Sau đó tất cả 06 người gặp nhau ở thị xã N, tỉnh Sóc Trăng rồi cùng chạy xuống xã V A. Khi xuống tới xã V A, không gặp nhóm T4 nên tất cả 06 người vào quán uống nước ngay cầu qua trường trung học cơ sở C2 thuộc ấp I, xã V A, sau đó T1 gọi điện thoại cho bạn gái tên Q1, Đ1 gọi điện cho bạn gái tên L1, K gọi điện cho bạn gái tên T6 là học sinh của trường C2 ra uống cà phê cùng. Đến khoảng hơn 13 giờ cùng ngày tất cả ra về, khi ra tới cửa quán thì T1 đưa cây dao bấm dạng xếp cho K cất giữ, còn mình thì lái xe chở K. Đi khỏi quán khoảng 200m thì nhóm Đ1 thấy nhóm của T4 chạy ngược chiều lúc này T2 nói “Nó kìa” rồi cả nhóm quay xe lại. Khi quay lại đến quán ông Chiêm Vũ L2, sinh năm 1979 thuộc ấp I, xã V A, thì thấy T4 ngồi uống nước cùng với Hứa Phấn K1, sinh năm 2007, Lê Hữu B, sinh năm 2006 và Lê Phước H3, sinh năm 2007 cùng thường trú: ấp I, xã V A. Sau đó cả nhóm xuống xe rồi T1H đi vào quán hỏi nhiều lần “thằng nào đòi đánh em tao” nhưng không ai trả lời. Sau đó, tất cả ra ngoài thì T2 nói “lỡ qua đây không lẽ về” (ý là lỡ qua đây rồi đánh nhóm của T4 mới về), T2 cầm 01 cục gạch ống định ném vào nhóm của T4 thì được can ngăn lại nên cục gạch rớt xuống đất, T1H cầm nón bảo hiểm xông vào quán đánh vào người của T4, B, H3, riêng Đ1 xông vào đánh bằng tay. Trong quá trình đánh nhau T1 bị té xuống nên K từ ngoài xe chạy vào dùng tay phải lấy cây dao bấm dạng xếp trong túi quần bên phải ra, bấm cho lưỡi dao bật ra đi vào đâm H3 01 cái trúng vào sườn trái, 01 cái trúng vào vai trái. Riêng P đứng bên ngoài không tham gia đánh nhau. Lúc đó T4, B, K1, H3 chống đỡ lại rồi bỏ chạy vào nhà ông L2, H mở túi cần câu lấy ra cây dao cầm đuổi theo vào nhà ông L2 nhưng bị ông L2 ngăn cản H lại. Sau đó cả 06 người lên xe chạy đi về huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Khi T1 chở K về đến đoạn đường thuộc ấp A, thị trấn V thì K vứt bỏ cây dao vào trong đám cỏ ở ven đường.

Căn cứ bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 84/KLTTCT-TTPY ngày 12/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh H kết luận tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Phước H3 tại thời điểm giám định. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y là 19% (mười chín phần trăm), các vết thương do vật sắc bén gây nên (bút lục 133-135).

Tại cáo trạng số 26/CT-VKSLM - HS, ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ đã quyết định truy tố các bị cáo Phạm Minh K, Nguyễn Tấn Đ1, Nguyễn Hoàng T1, Nguyễn Quốc H, Lê Trọng P về Tội cố ý gây thương tích, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

5

Tại phiên tòa kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo đồng thời đánh giá phân tích về tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử các vấn đề sau:

Về tội danh: Đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Phạm Minh K, Nguyễn Tấn Đ1, Nguyễn Hoàng T1, Nguyễn Quốc H, Lê Trọng P phạm Tội cố ý gây thương tích, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt và điều luật áp dụng:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Minh K2 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2023.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trọng P từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2023.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam các bị cáo Phạm Minh K2, Lê Trọng P 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 12/7/2023 đến ngày 12/9/2023.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ1 từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tấn Đ1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T1 từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

6

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng T1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định.

Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ViVo, màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu tím, màn hình bị bể đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng nhãn hiệu Oppo màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A04, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus màu đen, bị bể màn hình, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, số máy MHDG3VNIA, số seri FFW50GYN73C đã qua sử dụng.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh T7 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát: 83MF-005.67, đã qua sử dụng.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hoàng S 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter biển kiểm soát: 83P3-425.10, màu đen, số máy 3GD4E60293, số khung 0610AY577161, đã qua sử dụng.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Anh V1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại xe Raider, số máy CGA1567725, số khung R2SDL11ANNV167761, màu xanh đen, biển kiểm soát: 83T1-097.32, đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi đựng cần câu bằng vãi màu đỏ, đen có chữ SHIMANO có chiều dài 1,43m; 01 (một) đoạn gỗ khô (loại gỗ tre) chiều dài 1,43m, đường kính ở đầu lớn nhất 2cm, đầu nhỏ nhất 1,5cm; 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại chiều dài cán 49,5cm, chiều dài lưỡi dao 34,5cm;

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ việc gia đình các bị cáo đã thỏa thuận và đã khắc phục cho phía bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Phía gia đình bị hại có làm đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với các bị cáo và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và thống nhất quan điểm luận tội của kiểm sát

7

viên nhưng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo hưởng án treo.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo T1, Đ1 thống nhất với quan điểm của kiểm sát viên và không trình bày tranh luận gì thêm nhưng xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo.

Bị hại thống nhất với quan điểm của kiểm sát viên và không trình bày tranh luận gì thêm nhưng xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất với quan điểm của kiểm sát viên và không trình bày tranh luận gì thêm.

Người bào chữa cho bị cáo T1, Đ1 thống nhất quan điểm luận tội của kiểm sát viên và xin hội đồng xét xử áp dụng mức án nhẹ nhất cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo K2 cho rằng mức án mà Viện kiểm sát đưa ra là quá nặng so với hành vi của bị cáo. Xin hội đồng xét xử cho bị cáo K2 được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Đông T4 và người đại diện hợp pháp cho Bùi Đông T4 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên đã được cơ quan điều tra công an huyện L ghi lời khai, nếu xét thấy cần thiết trong quá trình xét xử sẽ công bố lời khai tại phiên tòa. Đối với Đoàn thanh niên cộng sản H4 thị trấn Huỳnh Hữu N1, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã H4, Đoàn thanh niên cộng sản xã V A vắng mặt đến lần thứ 2. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay có mặt của đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người bão chữa của bị cáo. Hơn nữa, tại thời điểm xét xử bị cáo T1, Đ1 đã đủ 18 tuổi nên việc vắng mặt đại diện của tổ chức nơi bị cáo Đ1, T1 và bị hại P lao động, sinh hoạt không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và bị hại. Vì vậy, hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 292 Bộ luật tố

8

tụng hình sự năm 2015 xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, đối chiếu với biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh H, kết luận định giá tài sản, các vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn trước đó với nhóm của Bùi Đông T4 nên ngày 04/4/2023 Phạm Minh K2, Nguyễn Tấn Đ1, Nguyễn Hoàng T1, Nguyễn Quốc H, Lê Trọng PNguyễn Thanh T2 đã cùng nhau xuống xã V, huyện L để tìm kiếm giải quyết mâu thuẫn, khi đi H có mang theo một cây dao tự chế bỏ trong cái túi cần câu rồi mang trên vai, T1 mang theo một cây dao bấm dạng xếp bỏ trong túi quần. Khi xuống tới xã V A, do không gặp nhóm T4 nên đến khoảng hơn 13 giờ cùng ngày tất cả 06 người ra về, khi ra tới cửa quán thì T1 đưa cây dao bấm dạng xếp cho K2 cất giữ. Khi đi khỏi quán khoảng 200m thì nhóm Đ1 thấy nhóm của T4 chạy ngược chiều lúc này T2 nói “Nó kìa” rồi cả nhóm quay xe lại. Khi quay lại đến quán ông Chiêm Vũ L2 thuộc ấp I, xã V A thì thấy T4 ngồi uống nước cùng với Hứa Phấn K1, Lê Hữu BLê Phước H3. Sau đó cả nhóm xuống xe rồi T1H đi vào quán hỏi nhiều lần “thằng nào đòi đánh em tao”, nhưng không ai trả lời. Sau đó, tất cả ra ngoài thì T2 nói “lỡ qua đây không lẽ về” (ý là lỡ qua đây rồi đánh nhóm của T4 mới về), T2 cầm 01 cục gạch ống định ném vào nhóm của T4 thì được can ngăn lại nên cục gạch rớt xuống đất, T1H cầm nón bảo hiểm xông vào quán đánh vào người của T4, B, H3, riêng Đ1 xông vào đánh bằng tay. Trong quá trình đánh nhau T1 bị té xuống nên K2 từ ngoài xe chạy vào dùng tay phải lấy cây dao bấm là hung khí nguy hiểm đi vào đâm Lê Phước H3 01 cái trúng vào sườn trái, 01 cái trúng vào vai trái gây thương tích tổn hại sức khỏe là 19%.

Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi mà các bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo sợ cho quần chúng nhân dân và bức xúc trong dư luận. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi đã thực hiện.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang đã truy tố các bị cáo Phạm Minh K2, Nguyễn Tấn Đ1, Nguyễn Hoàng T1, Nguyễn Quốc H, Lê Trọng P phạm “Tội cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản

9

2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.

[4]. Trong vụ án này, nguyên nhân chính dẫn đến việc gây thương tích là do có mâu thuẫn từ trước giữa nhóm của bị cáo và nhóm của bị hại, các bị cáo cùng thống nhất ý chí với nhau. Tuy nhiên, các bị cáo chỉ nhất thời phạm tội, không có sự câu kết chặt chẽ, không có phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bị cáo nên các bị cáo chỉ phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn.

Xét về vai trò, tính chất, mức độ cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo là khác nhau nên khi quyết định hình phạt cũng có sự khác nhau:

[4.1]. Đối với bị cáo Phạm Minh K2 là người có vai trò chính trong vụ án, bị cáo là người trực tiếp gây thương tích cũng cho bị hại. Nên mức án của bị cáo là nghiêm khắc nhất mới đủ sức răn đe.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến việc bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả cho bị hại, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[4.2]. Bị cáo Nguyễn Quốc H, Lê Trọng P có vai trò ngang nhau, cùng giúp sức tích cực cho bị cáo K2. Do đó, mức án của các bị cáo là ngang nhau nhưng thấp hơn bị cáo K2.

Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; có tác động gia đình nộp khắc phục hậu quả cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra bị cáo P có ông nội là ông Lê Công M1 là người có công với cách mạng được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4.3]. Bị cáo Nguyễn Tấn Đ1, Nguyễn Hoàng Trọng phạm t với vai trò đồng phạm, là người giúp sức cho bị cáo K2. Khi phạm tội bị cáo Đ1, T1 chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên mức án của bị cáo Đ1, T1 là như nhau nhưng thấp hơn các bị cáo khác. Hơn nữa, theo quy định của Bộ luật hình sự quy định khi xử phạt người chưa thành niên phạm tội thì không nên áp dụng hình phạt tù đối với họ mà khuyến khích xử phạt một hình phạt khác như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hay xét xử cho hưởng án treo tùy theo tính chất mức độ để họ nhận thức rõ để sửa chữa sai lầm, làm lại cuộc đời và có tính giáo dục cao.

10

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, khắc phục hậu quả cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, gia đình bị cáo Đ1 thuộc diện hộ nghèo, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo.

Mặc khác, các bị cáo mới phạm tội lần đầu, trong vụ án này các bị cáo là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể, từ khi phạm tội đến nay luôn chấp hành tốt những quy định của pháp luật về cấm đi khỏi nơi cư trú, ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng cải tạo đối chiếu vào Điều 65 của Bộ luật hình sự, Nghị quyết 02/2018/NQHĐTP-TANDTC thì các bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo. Việc cho các bị cáo hưởng án treo không ảnh hưởng đến tình hình chính trị tại địa phương cũng như công tác phòng ngừa tội phạm.

[5]. Xét về đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho các bị cáo. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c mục 10 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “Cần phải hạn chế và phải hết sức chặt chẽ khi áp dụng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999” tương ứng Điều 54 Bộ luật hình sự hiện hành. Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng, nhân thân tốt không tiền án, tiền sự để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, khoan hồng đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho các bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng làm người có ích cho xã hội, phù hợp với nguyên tắc xử lý và mục đích hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự nên hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo, quyết định mức án dưới khung liền kề đã truy tố, xét xử.

[6]. Từ những phân tích trên xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt cũng như về xử lý vật chứng đối với các bị cáo, hội đồng xét xử chấp nhận một phần đề nghị của đại diện viện kiểm sát.

[7]. Xét đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Phạm Minh K2 đề nghị cho bị cáo K2 được hưởng án treo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo K2 và bị hại không có mâu thuẫn từ trước nhưng chỉ vì nghe rủ rê mà bị cáo đã dùng dao là hung khí nguy hiểm trực tiếp gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 19%. Do đó, để có một mức án tương xứng với hành vi của bị

11

cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội nên hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị xin hưởng án treo của người bào chữa.

[8]. Đối với Nguyễn Thanh T2 tại thời điểm thực hiện hành vi gây thương tích cho Lê Phước H3 thì T2 chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Dó đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L chuyển hồ sơ cho Công an xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng để áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là có căn cứ.

Đối với Lê Hữu B bị đánh gây thương tích nhưng Bằng tự nguyện viết đơn không yêu cầu giám định thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ. Đối với bị can Nguyễn Hoàng T1 trong quá trình đánh nhau bị đánh vào vai nhưng không bị gây thương tích gì, bị cáo tự nguyện viết đơn không yêu cầu giám định thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

[9]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận số tiền 40.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[10]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan những vật chứng không dùng vào việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 26/QĐ-VKSLM-HS, ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ).

[11]. Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định.

[12]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Minh K2, Nguyễn Tấn Đ1, Nguyễn Hoàng T1, Nguyễn Quốc H, Lê Trọng P phạm Tội cố ý gây thương tích.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Minh K2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2023.

12

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trọng P 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2023.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam các bị cáo Phạm Minh K2, Lê Trọng P 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 12/7/2023 đến ngày 12/9/2023.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ1 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tấn Đ1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T1 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng T1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định.

Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Phạm Minh K2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ViVo, màu xanh đã qua sử dụng.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh T2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu tím, màn hình bị bể đã qua sử dụng.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh T7 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát: 83MF-005.67, đã qua sử dụng.

13

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tấn Đ1 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng nhãn hiệu Oppo màu xanh đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A04, màu đen, đã qua sử dụng.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hoàng S 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter biển kiểm soát: 83P3-425.10, màu đen, số máy 3GD4E60293, số khung 0610AY577161, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng T1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus màu đen, bị bể màn hình, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Lê Trọng P 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, số máy MHDG3VNIA, số seri FFW50GYN73C đã qua sử dụng.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Anh V1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại xe Raider, số máy CGA1567725, số khung R2SDL11ANNV167761, màu xanh đen, biển kiểm soát: 83T1-097.32, đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi đựng cần câu bằng vãi màu đỏ, đen có chữ SHIMANO có chiều dài 1,43m; 01 (một) đoạn gỗ khô (loại gỗ tre) chiều dài 1,43m, đường kính ở đầu lớn nhất 2cm, đầu nhỏ nhất 1,5cm; 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại chiều dài cán 49,5cm, chiều dài lưỡi dao 34,5cm.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 26/QĐ-VKSLM-HS, ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án về các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật

14

Nơi nhận:

  • - VKS ND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKS ND huyện Long Mỹ;
  • - Cơ quan CSĐT công an huyện Long Mỹ;
  • - Đội THAHS và HTTP công an huyện Long Mỹ;
  • - Chi cục THA DS huyện Long Mỹ;
  • - Bị cáo, bị hại và các đương sự có liên quan;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lữ Thành Đồng

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 28/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG về tội cố ý gây thương tích

  • Số quyết định: 28/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger