Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 27/2024/QĐST- HNGĐ

Hải Dương, ngày 07 tháng 5 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 187/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/4/2024, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn". Theo Quyết định mở phiên họp số 153/2024/QĐMPH-HNGĐ ngày 24/4/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu:

  1. Chị Vũ Thị Thảo A, sinh ngày 31/7/1992.
  2. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm 4, thôn Quách An, xã Thanh An, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

    Hiện ở: Nhật Bản.

    Người được chị A ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Bà Ngô Thị N, sinh năm 1970.

    Địa chỉ : Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

  3. Anh Nguyễn Trung Đ, sinh ngày 02/10/1990.
  4. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    Hiện ở: Vương quốc A.

    Người được anh Đ ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Bà Tiêu Thị X, sinh năm 1971. Địa chỉ : Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

(Chị Thảo A và anh Đ đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của chị Vũ Thị Thảo A và anh Nguyễn Trung Đ cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện :

Về quan hệ hôn nhân : Anh Đ và chị Thảo A tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 26/5/2015. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được 1 tháng thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, chị T chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở được một thời gian thì làm thủ tục đi Nhật Bản, còn anh Đ đi lao động tại V. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh Đ và chị Thảo A đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai bên thống nhất làm đơn ly hôn, đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị.

Về quan hệ con chung: Anh Đ và chị Thảo A không có con chung, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Đ và chị Thảo A xác định không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về lệ phí ly hôn: Chị Thảo A tự nguyện chịu cả lệ phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Do anh Đ đang lao động ở V, chị Thảo A lao động tại Nhật Bản, nên anh Đ ủy quyền cho bà Tiêu Thị X, chị Thảo A ủy quyền cho bà Ngô Thị N giao và nhận văn bản tại Tòa án. Bà X, bà N đồng ý nhận ủy quyền, sau khi nhận các văn bản tố tụng, bà X, bà N đã thông tin cho chị Thảo A và anh Đ biết. Anh Đ và chị Thảo A vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày, đồng thời anh chị đều đề nghị giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ việc: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị Vũ Thị Thảo A và anh Nguyễn Trung Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh Đ và chị Thảo A. Chị Thảo A chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Vũ Thị Thảo A có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại Xóm D, thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Anh Nguyễn Trung Đ có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện chị Thảo A đang lao động tại Nhật Bản, anh Đ lao động tại V, do vậy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Tài liệu anh Đ, chị Thảo A gửi về Việt Nam gồm đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn xin giải quyết vắng mặt chưa được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Tòa án đã trưng cầu giám định, tại kết luận giám định số 1122/KL-KTHS ngày 19 tháng 4 năm 2024 của phòng K Công an thành phố H kết luận chữ viết có nội dung “ Nguyễn Anh Đ1” tại mục “ Người làm đơn” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2; tại mục “ Người viết giấy ủy quyền” trên mẫu cần giám định ký hiệu A3 và tại mục “ Người khai” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A4 so với chữ viết của người mang tên Nguyễn Trung Đ tại mục “ Chồng” trên mẫu so sánh ký hiệu M là do cùng một người viết ra.

Chữ ký, chữ viết mang tên Vũ Thị Thảo A tại mục “ Người làm đơn” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A5, A6; tại mục “ Người viết giấy ủy quyền” trên mẫu cần giám định ký hiệu A7 so với chữ ký, chữ viết của người mang tên Vũ Thị Thảo A tại mục “ Vợ” trên mẫu so sánh ký hiệu M là do cùng một người ký, viết ra. Do vậy có căn cứ xác định các văn bản nêu trên là của anh Đ và chị A.

Anh Đ và chị Thảo A đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Thảo A và anh Nguyễn Trung Đ được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 26/5/2015, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng sống hòa thuận khoảng 1 tháng thì xảy ra mâu thuẫn, sau đó anh Đ và chị Thảo A đều đi nước ngoài lao động, mỗi người sống ở một nước khác nhau. Vợ chồng sống xa cách, không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến bất đồng quan điểm. Nay anh Đ và chị Thảo A đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương công nhận sự thuận tình ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh Đ và chị Thảo A đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh chị.
  • Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị Vũ Thị Thảo A và anh Nguyễn Trung Đ đều xác định không có, không đề nghị giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[3]. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Vũ Thị Thảo A chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Thảo A và anh Nguyễn Trung Đ.
  2. Về lệ phí: Chị Vũ Thị Thảo A tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ với số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000585 ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị Thảo A đã nộp đủ lệ phí.
  3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - UBND thị trấn Thanh Hà;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ.

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 27/2024/QĐST- HNGĐ ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn

  • Số quyết định: 27/2024/QĐST- HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger