|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2025/HNGĐ - ST Ngày: 13 tháng 6 năm 2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Quách Thị Thu Hương
Bà Nguyễn Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Phương Liên là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư tham gia phiên toà:
Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐHPT-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Ngô Thị H, sinh năm 1991;
Địa chỉ: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
-
Bị đơn: Anh Nguyễn Như T, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Số nhà A, đường T, phố M, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên tòa: Có mặt chị H, vắng mặt anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 12 năm 2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Ngô Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị H và anh Nguyễn Như T tự do tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn ngày 20/5/2013 tại UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với gia đình anh T tại phường N, thành phố N. Ban đầu vợ chồng chung sống bình thường, thi thoảng có xảy ra mâu thuẫn nhưng chỉ là những va chạm nhỏ trong đời sống hàng ngày. Đến năm 2021 vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, ngày nào anh T cũng đi từ sáng đến đêm muộn mới về, bỏ mặc vợ con, khi về đến nhà lại gây sự chửi bới chị, mâu thuẫn vợ chồng lớn dần. Từ đó hai vợ chồng không thể nói chuyện được với nhau, ai làm việc của người đó, sống chung nhà nhưng không quan tâm đến nhau. Tình cảm vợ chồng phai nhạt dần, đến năm 2024 chị H thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, chị H muốn ly hôn, khi gia đình chị biết chuyện khuyên vợ chồng tạm sống xa nhau một thời gian để suy nghĩ lại. Ngày 30/10/2024, chị H về nhà mẹ đẻ ở tỉnh Nghệ An để ở, vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau, việc ai người đó làm. Thi thoảng chị H, anh T có liên lạc với nhau để trao đổi tình hình của con, ngoài ra không trao đổi bất kỳ nội dung gì khác. Do mâu thuẫn vợ chồng đã lâu, xác định không thể hàn gắn được nữa nên vợ chồng cũng không ai có giải pháp gì để hàn gắn tình cảm. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết cho được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngô Gia B, sinh ngày 22/9/2013 và cháu Nguyễn Ngô Bảo A, sinh ngày 25/02/2016. Tại đơn khởi kiện chị H có nguyện vọng được nuôi một con chung, quá trình giải quyết vụ án anh T muốn nuôi cả hai con chung, chị H thấy rằng việc để anh T nuôi cả hai con chung sẽ thuận lợi cho việc sinh hoạt, học tập của các con nên chị cũng đồng ý. Chị H đề nghị giao hai con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, chị H sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.500.000 đồng/01 tháng/01 cháu cho đến khi con chung thành niên.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H xác định chị và anh T không có tài sản chung, không có công nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai đề ngày 20/01/2025, bị đơn anh Nguyễn Như T trình bày: Xác nhận quan hệ hôn nhân, thời gian kết hôn như chị H khai. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên nghi ngờ nhau có quan hệ với người thứ ba, dẫn đến vợ chồng cãi vã, đỉnh điểm là ngày 30/10/2024 chị H và gia đình ra chở đồ đạc bỏ về quê tại huyện Q, Nghệ An. Từ khi bỏ đi, chị H xoá hoàn toàn các mối thông tin liên lạc, vợ chồng không liên lạc được với nhau, không thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Chị H làm đơn xin ly hôn anh không đồng ý do anh vẫn còn tình cảm và muốn hai con có đủ tình thương yêu của bố mẹ.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngô Gia B, sinh ngày 22/9/2013 và cháu Nguyễn Ngô Bảo A, sinh ngày 25/02/2016. Trường hợp không thể đoàn tụ được, anh T mong muốn được giao cả hai con chung cho bố hoặc mẹ nuôi để cho các cháu được sống và chăm sóc cho nhau.
Về tài sản và công nợ: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Như T đến làm việc lấy lời khai, đưa con chưa thành niên đến để lấy ý kiến, tham gia hòa giải nhưng anh T không đến Tòa án để làm việc theo nội dung triệu tập, không đưa con chưa thành niên đến làm việc theo yêu cầu của Tòa án, vắng mặt tại buổi hòa giải. Anh T không có ý kiến gì đối với tài liệu, chứng cứ do chị H giao nộp và Toà án thu thập.
Tại Biên bản xác minh ngày 21 tháng 3 năm 2025 giữa Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư và Trưởng phố M, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình về tình trạng hôn nhân giữa chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Như T; T1 phố M cung cấp: Chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Như T là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chị H, anh T sinh sống cùng bố mẹ anh T tại phố M, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Trong quá trình chung sống tại địa phương, đại diện tổ dân phố không thấy vợ chồng anh T, chị H khai báo về việc vợ chồng mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đại diện tổ dân phố không nắm được. Đầu tháng 11/2024, chị H có xin xác minh tạm trú ở nhà mẹ đẻ chị H tại tỉnh Nghệ An. Nay chị H có đơn xin ly hôn với anh T, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng chị H, anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngô Gia B sinh năm 2013 và cháu Nguyễn Ngô Bảo A sinh năm 2016. Hai cháu đang ở cùng anh T. Về việc nuôi con chung đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ; chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư nghiên cứu đúng thời gian; trình tự thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ, bị đơn chưa thực hiện hết quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị H, cho ly hôn giữa chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Như T.
Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Như T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Ngô Gia B, sinh ngày 22/9/2013 và cháu Nguyễn Ngô Bảo A, sinh ngày 25/02/2016 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động.
Chị Ngô Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 2.500.000 (Hai triệu, năm trăm nghìn) đồng/01 tháng/01 cháu, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 06/2025 cho đến khi cháu Nguyễn Ngô Gia B, cháu Nguyễn Ngô Bảo A thành niên và có khả năng lao động.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ngô Thị H phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, tổng số tiền án phí phải nộp là 600.000 đồng, được đối trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002435 ngày 06/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; chị H còn phải nộp số tiền án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền: Chị Ngô Thị H khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với anh Nguyễn Như T, đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Nguyễn Như Thiện đang sinh sống tại phường N, thành phố H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Anh T được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân:
Chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Như T kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N (nay là thành phố H) đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Theo chị H trình bày: Từ năm 2021 vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, ngày nào anh T cũng đi từ sáng đến đêm muộn mới về, bỏ mặc vợ con, khi về đến nhà lại gây sự chửi bới chị, mâu thuẫn vợ chồng lớn dần. Từ đó hai vợ chồng không thể nói chuyện được với nhau, ai làm việc của người đó, sống chung nhà nhưng không quan tâm đến nhau. Tình cảm vợ chồng phai nhạt dần, đến ngày 30/10/2024, chị H về nhà mẹ đẻ tại tỉnh Nghệ An để ở, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Từ khi ly thân vợ chồng việc ai người đó làm, không quan tâm gì đến nhau, không quan hệ sinh lý. Tại bản tự khai ngày 20/01/2025, anh T khai: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên nghi ngờ nhau có quan hệ với người thứ ba, dẫn đến vợ chồng cãi vã, đỉnh điểm là ngày 30/10/2024 chị H và gia đình ra chở đồ đạc bỏ về quê tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Từ khi bỏ đi, chị H xoá hoàn toàn các mối thông tin liên lạc, vợ chồng không liên lạc được với nhau, không thực hiện quyền nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Tại Biên bản xác minh ngày 21/3/2025, Trưởng phố M, phường N, thành phố H cung cấp: Đầu tháng 11 năm 2024 chị H có xin xác minh tạm trú tại nhà mẹ đẻ ở tỉnh Nghệ An.
Qua lời khai của các đương sự, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, biên bản xác minh do Tòa án thu thập được cho thấy: Trong quá trình chung sống giữa chị H, anh T đã phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ ngày 30/10/2024 đến nay. Từ khi sống ly thân, vợ chồng mỗi người sống một nơi, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, không thực hiện quyền nghĩa vụ chung của vợ chồng. Sau khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, tình cảm vợ chồng giữa chị H, anh T không được cải thiện, vợ chồng vẫn sống ly thân, cả chị H, anh T đều không đưa ra được giải pháp để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Anh T xác định còn tình cảm với chị H, không đồng ý ly hôn nhưng khi Tòa án triệu tập anh T đến tham gia hòa giải quan hệ hôn nhân thì anh T vắng mặt, không tham gia hoà giải. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị H, anh T đã kéo dài và ngày càng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, không còn khả năng hàn gắn lại tình cảm, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị H và anh T có hai con chung là cháu Nguyễn Ngô Gia B, sinh ngày 22/9/2013 và cháu Nguyễn Ngô Bảo A, sinh ngày 25/02/2016. Chị H đề nghị giao hai con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, chị H sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.500.000 đồng/01 tháng/01 cháu cho đến khi con chung thành niên.
Tại bản tự khai ngày 20/01/2025 anh T có mong muốn được giao cả hai con chung cho bố hoặc mẹ nuôi để cho các cháu được sống và chăm sóc cho nhau. Quá trình giải quyết vụ án chị H giao nộp 02 đơn trình bày nguyện vọng của cháu Nguyễn Ngô Gia B và cháu Nguyễn Ngô Bảo A thể hiện nguyện vọng của các cháu muốn được ở với bố vì hiện nay các cháu đang ở với bố và để thuận lợi cho việc học tập.
Xét thấy: Từ khi chị H, anh T sống ly thân, hai con chung đều do anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, đề nghị của chị H giao hai con chung cho anh T nuôi là phù hợp với mong muốn của anh T, cháu Gia B và cháu Bảo A cũng đều có nguyện vọng được ở với bố; để đảm bảo môi trường sinh hoạt, học tập, phát triển ổn định cho các cháu, cần giao cháu Gia B, cháu Bảo A cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H đề nghị được cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.500.000 đồng/01 tháng/01 con cho đến khi thành niên. Anh T không có ý kiến gì về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H là lao động tự do, có thu nhập, có điều kiện để cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng chị H đưa ra là tự nguyện, phù hợp với khả năng, điều kiện thu nhập của chị H, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần ghi nhận.
[2.3] Về tài sản chung và công nợ: Chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Như T không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Ngô Thị H phải nộp án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị H, cho ly hôn giữa chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Như T. Quan hệ hôn nhân của chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Như T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Như T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Ngô Gia B, sinh ngày 22/9/2013 và cháu Nguyễn Ngô Bảo A, sinh ngày 25/02/2016 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động.
Chị Ngô Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 2.500.000 (Hai triệu, năm trăm nghìn) đồng/01 tháng/01 cháu, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 06/2025 cho đến khi cháu Nguyễn Ngô Gia B, cháu Nguyễn Ngô Bảo A thành niên và có khả năng lao động.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Ngô Thị H phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, tổng số tiền án phí phải nộp là 600.000 đồng, được đối trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002435 ngày 06/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; chị H còn phải nộp số tiền án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Diệu Oanh |
Quyết định số 27/2025/HNGĐ - ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số quyết định: 27/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: C H yêu cầu ly hôn anh T và giải quyết việc nuôi con chung do mâu thuẫn vợ chồng đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được
