Hệ thống pháp luật

1

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HSST.

Ngày: 10/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Lê Lân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Lộc.

Ông Phan Thanh Long.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hậu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 10/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS, ngày 16 tháng 4 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 13/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh K (tên gọi khác: không); sinh ngày: 12/01/1995 tại Bình Định; nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Nguyễn Kim S, sinh năm: 1964 và bà Huỳnh Thị T, sinh năm: 1968; anh, chị, em ruột: 05 người, bị cáo là con thứ 3; vợ: Nguyễn Thị Hải L, sinh năm: 1998; con: 01 người, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị khởi tố và bắt tạm giữ, tạm giạm từ ngày 26/02/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện P cho đến ngày 02/4/2024 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng: Phan Hồng T1, sinh năm: 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 05h30 ngày 23/02/2024, tổ công tác của Công an huyện P tuần tra trên đường tỉnh lộ 633, khi đến cửa hàng X thuộc thôn Đ, xã C, huyện P thì phát hiện Phan Hồng T1, sinh năm: 1986 ở T, C, Phù C điều khiển xe mô tô Honda Airblade biển số 59B1 – 137.68, nhận 01 hộp giấy từ xe ô tô khách Hoàng Khang, biển số 50F-001.11, có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đã yêu cầu T1 dừng xe kiểm tra thì phát hiện T1 cầm 01 hộp hình chữ nhật, kích thước (30x25x7)cm, màu trắng, trên hộp có in chữ H.E.F và viết dòng chữ 0327444736, A.TÚ, CÁT MINH. Kiểm tra bên trọng hộp giấy phát hiện 01 cái áo thun, màu xanh dương, mặt trước có in huy hiệu Trường Cao đẳng kinh tế đối ngoại, huy hiệu Đoàn thanh niên Cộng sản H1 và Hội S1... bên trong áo thun có chứa:

  • - 01 gói nilon kích thước (7,8x4)cm, chứa tinh thể nghi là ma tuý;
  • - 01 gói nilon kích thước (7,3x4)cm, chứa 15 viên nén màu nâu, không rõ hình dạng, kích thước (01x01x0,3)cm, nghi là ma tuý;
  • - 01 gói nilon màu đỏ, kích thước (9x6)cm, có in hình con ngựa màu đen; chữ “ST”; “Ferrari”, bên trong chứa chất bột nghi là ma tuý;

Theo lời khai của Phan Hồng T1 là vào ngày 22/02/2024, Nguyễn Thanh K ở T, C, Phù C nhắn tin zalo cho T1, nhờ liên hệ nhà xe H2 lấy giúp Khôi 01 hộp đồ, nhưng không biết cụ thể là đồ gì, nên sáng ngày 23/02/2024 T1 vừa nhận hộp đồ từ nhà xe H2, chuẩn bị đi về thì bị Công an kiểm tra, phát hiện trong hộp giấy mà T1 vừa nhận có số hàng nghi là ma tuý như trên.

Tiến hành khám xét nhà Phan Hồng T1Nguyễn Thanh K, đã tạm giữ đồ vật, tài liệu:

  1. Tại nhà Phan Hồng T1:
    • - 01 điện thoại di động Iphone X màu đen, số IMEI 35674108062263 bên trong có gắn sim số 0393732339;
    • - 01 điện thoại di động N1 màu đen, bên trong có gắn sim số 0327444736;
    • - 01 gói nilon, kích thước (6x4)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể nghi là ma tuý.
  2. Tại nhà Nguyễn Thanh K:
    • - 01 gói nilon, kích thước (8x4)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể nghi là ma tuý.

Theo Kết luận giám định số: 106/KL-KTHS ngày 24/02/2024 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh B, kết luận:

3

  • - Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A1), đựng bên trong có 01 gói nilon kích thước (7,8x4)cm, gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 7,0051 gam, là (loại): Ketamine;
  • - 15 viên nén màu nâu, không rõ hình dạng (ký hiệu A2), đựng bên trong 01 gói nilon, kích thước (7,3x4)cm, gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 6,2994 gam, là (loại): MDMA;
  • - Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A4), đựng bên trong 01 gói nilon kích thước (8x4)cm, gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,9660 gam, là (loại): Ketamine;
  • - Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A5), đựng bên trong 01 gói nilon kích thước (6x4)cm, gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1722 gam, là (loại): Ketamine;

Theo Kết luận giám định số: 447/KL-KTHS ngày 06/03/2024 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Chất rắn dạng bột màu vàng cam trong gói nilon màu đỏ hàn kín, kích thước (9x6)cm, hai mặt đều có hình con ngựa màu đen, chữ “ST”, “Ferrari”, gửi giám định có tìm thấy chất ma tuý, loại: Methamphetamine, 2C-B, Ketamine và N, khối lượng mẫu là 4,55 gam.

Trên cơ sở lời khai của bị cáo và các đối tượng liên quan cùng với các vật chứng đã thu giữ, đủ chứng cứ để xác định:

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên ngày 21/02/2024, Nguyễn Thanh K liên hệ với một người tên H (không rõ tên thật và địa chỉ cụ thể) ở thành phố Hồ Chí Minh, mua được 15 viên ma tuý “Kẹo” (M1), 01 hộp 10 ma tuý khay (Ketamine) và 01 bịch ma tuý loại “nước vui” với giá 17.000.000 đồng. Do không có ở địa phương nên K nhờ bạn là Phan Hồng T1 liên hệ với xe khách Hoàng Khang BKS 50F-001.11 nhận giúp hộp đồ cho K, nhưng K không nói cho T1 biết trong hộp này có chứa các chất ma tuý, T1 đồng ý. Đến khoảng 05h30 ngày 23/02/2024, T1 liên hệ nhà xe H2 rồi điều khiển xe mô tô Honda Airblade, biển số 59B1-137.68 đến cây xăng số 18 ở thôn Đ, xã C, huyện P nhận 01 hộp giấy hình chữ nhật, kích thước (30x25x7)cm, màu trắng, trên hộp có in chữ H.E.F và viết dòng chữ 0327444736, A.TÚ, CÁT MINH, bên trong có chứa các chất ma tuý từ nhà xe H2 thì bị tổ công tác của Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang. Sau khi biết hộp giấy có chứa các chất ma tuý mà T1 nhận giúp đã bị bắt giữ, ngày 26/02/2024 Nguyễn Thanh K đến Cơ quan CSĐT Công an huyện P đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Về vật chứng: Đã chuyển giao cho Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát.

- Vỏ, bao bì đựng mẫu vật. Tất cả được niêm phong trong 01 bì thư có kích thước (26x18)cm, dán kín niêm phong: Dấu tròn Phòng K2 - Công an tỉnh B, chữ ký của các ông: Thân Trọng T2, Phan Quang T3, Nguyễn Hữu T4. Trên bì thư ghi in dòng chữ: “Hoàn lại sau giám định”; “Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 6,4015 gam

4

mẫu A1; 5,4979 gam mẫu A2; 0,8102 gam mẫu A4; 0,1348 gam mẫu A5 còn lại sau giám định”;

- Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 3,95 gam ma tuý còn lại sau giám định. Tất cả được niêm phong trong 01 bì thư có kích thước (22x12)cm dán kín niêm phong: dấu tròn Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, chữ ký của các ông: Phạm Phú Q; Lê Nhật M. Trên bì thư ghi in dòng chữ “Bộ C1 – V; số 447/KL-KTHS";

- 01 hộp giấy, dạng hình chữ nhật, kích thước (30x25x7)cm, màu trắng, trên hộp có in chữ “H.E.F” và viết dòng chữ “0327444736”, “A.TÚ”, “CÁT MINH";

- 01 cái áo thun, màu xanh dương, mặt trước có in huy hiệu Trường Cao đẳng kinh tế đối ngoại, huy hiệu Đoàn thanh niên Cộng sản H1 và Hội S1; phía sau in dòng chữ Trường Cao đẳng K3, chiến dịch tình nguyện mùa hè xanh;

- 01 điện thoại di động, hiệu Iphone X, màu đen, số IMEI 35674108062263, bên trong có gắn sim số 0393732339 của Phan Hồng T1;

- 01 điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen, bên trong có gắn sim số 0327444736 của Phan Hồng T1;

(Có đặc điểm như biên bản tạm giữ, biên bản giao nhận vật chứng).

Tại bản cáo trạng số: 19/CT-VKSPC, ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, trong phần thủ tục tranh luận, đại diện VKSND huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của BLHS, xử phạt bị cáo với mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), tuyên xử: Tịch thu tiêu huỷ - Vỏ, bao bì đựng mẫu vật. Tất cả được niêm phong trong 01 bì thư có kích thước (26x18)cm, dán kín niêm phong: Dấu tròn Phòng K2 - Công an tỉnh B, chữ ký của các ông: Thân Trọng T2, Phan Quang T3, Nguyễn Hữu T4. Trên bì thư ghi in dòng chữ: “Hoàn lại sau giám định”; “Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 6,4015 gam mẫu A1; 5,4979 gam mẫu A2; 0,8102 gam mẫu A4; 0,1348 gam mẫu A5 còn lại sau giám định”;

- Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 3,95 gam ma tuý còn lại sau giám định. Tất cả được niêm phong trong 01 bì thư có kích thước (22x12)cm dán kín niêm phong: dấu tròn Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, chữ ký của các ông:

5

Phạm Phú Q; Lê Nhật M. Trên bì thư ghi in dòng chữ “Bộ C1 – V; số 447/KL-KTHS";

- 01 hộp giấy, dạng hình chữ nhật, kích thước (30x25x7)cm, màu trắng, trên hộp có in chữ “H.E.F” và viết dòng chữ “0327444736”, “A.T3”, “CÁT MINH”;

- 01 cái áo thun, màu xanh dương, mặt trước có in huy hiệu Trường Cao đẳng kinh tế đối ngoại, huy hiệu Đoàn thanh niên Cộng sản H1 và Hội S1; phía sau in dòng chữ Trường Cao đẳng K3, chiến dịch tình nguyện mùa hè xanh;

T5 trả lại cho Phan Hồng T1:

  • - 01 điện thoại di động, hiệu Iphone X, màu đen, số IMEI 35674108062263, bên trong có gắn sim số 0393732339 của Phan Hồng T1;
  • - 01 điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen, bên trong có gắn sim số 0327444736 của Phan Hồng T1;

Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng mô tả. Hiện đang tạm giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát.

- Trong phần tự bào chữa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt; tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về hoà nhập với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về mặt tố tụng: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX có đủ căn cứ để khẳng định, tại các giai đoạn tố tụng này, hành vi của những người tiến hành tố tụng và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét diễn biến của vụ án và hành vi của bị cáo đã thực hiện, HĐXX thấy rằng:

[2.1] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh K đã khai nhận toàn bộ diễn biến của vụ án; thời gian, địa điểm và hành vi của bị cáo đã thực hiện đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại các biên bản hỏi cung bị can của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát; phù hợp với lời

6

khai của người làm chứng trong vụ án; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Vì vậy, HĐXX có đủ căn cứ để kết luận: Các chất ma tuý là những chất gây nghiện nguy hiểm, nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm mọi cá nhân mua bán, tàng trữ trái phép nhưng vì muốn có ma tuý để sử dụng, Nguyễn Thanh K đã đặt mua được 17.000.000 đồng ma tuý Ketamine, có tổng khối lượng 7,9711 gam; 6,2994 gam MDMA và 01 gói “nước vui” chứa các chất ma tuý Methamphetamine, 2C-B, Ketamine và N, có tổng khối lượng 4,55 gam, nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt giữ vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 21/02/2024 tại cây xăng số A, thôn Đ, xã C, huyện P.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Thanh K đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, Cáo trạng số 19/CT-VKSPC ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Nguyễn Thanh K với tội danh, khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những qui định của nhà nước về quản lý, sửa dụng các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương nên xét thấy cần thiết phải áp dụng chế tài hình sự nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo đã thực hiện để cải tạo, răn đe, giáo dục đối với chính bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Xét đặc điểm nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện đến trình diện đầu thú tại cơ quan điều tra, đồng thời tích cực khai báo rõ sự việc để mở rộng điều tra làm rõ vụ án. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS để HĐXX xem xét, cân nhắc khi lượng hình. Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo có ông nội là liệt sỹ, cha ruột của bị cáo bị khuyết tật nặng (liệt một chân). Do đó, HĐXX thấy rằng cần cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của nhà nước, áp dụng Điều 54 của BLHS xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” để bị cáo an tâm cải tạo tốt trong quá trình chấp hành án, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trong vụ án có các đối tượng:

- Phan Hồng T1 có hành vi nhận giúp 01 hộp giấy chứa các chất ma tuý cho Nguyễn Thanh K, nhưng T1 không biết trong hộp giấy này có chứa ma tuý nên không đồng phạm với bị cáo K và có hành vi tàng trữ 0,1722 gam ma tuý Ketamine

7

để sử dụng. Tuy nhiên khối lượng ma tuý Ketamine mà T1 tàng trữ chưa đủ định lượng cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nên Cơ quan CSĐT Công an huyện P không truy cứu TNHS đối với Phan Hồng T1 mà xử lý hành chính là có cơ sở.

- Đối tượng tên H đã bán ma tuý cho K, hiện chưa xác định được họ và tên, tuổi, địa chỉ thật và sau khi biết Nguyễn Thanh K bị bắt, người này đã xoá mọi liên lạc với K nên chưa có cơ sở xác minh thông tin về người này, Cơ quan CSĐT Công an huyện P hành vi của đối tượng này để điều tra xử lý sau.

- Đối với lái xe và phụ xe Hoàng K1 đều không biết hộp giấy khách gửi cho Nguyễn Thanh K có chứa các chất ma tuý nên không cấu thành tội phạm.

[4] Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp khác:

[4.1] Trách nhiệm dân sự: Không.

[4.2] Về xử lý vật chứng:

Xét thấy các vật chứng được xác định là chất ma tuý nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với quy định tại Điều 47 BLHS và Điều 106 của BLTTHS. Riêng 02 điện thoại là tài sản cá nhân của Phan Hồng T1, nghĩ nên cần xem xét trả lại cho chủ sở hữu cũng phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS - 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định trình bày lời luận tội, đề nghị HĐXX xem xét đặc điểm nhân thân của bị cáo, áp dụng các tình tiết tăng tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt phù hợp với nhận định của HĐXX nên Tòa án chấp nhận.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Về tội danh:

8

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Được trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2024 đến ngày 02/4/2024. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp khác:

3.1. Về trách nhiệm dân sự: Không.

3.2. Về xử lý vật chứng:

* Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án gồm:

- Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 3,95 gam ma tuý còn lại sau giám định. Tất cả được niêm phong trong 01 bì thư có kích thước (22x12)cm dán kín niêm phong: dấu tròn Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, chữ ký của các ông: Phạm Phú Q; Lê Nhật M. Trên bì thư ghi in dòng chữ “Bộ C1 – V; số 447/KL-KTHS";

- 01 hộp giấy, dạng hình chữ nhật, kích thước (30x25x7)cm, màu trắng, trên hộp có in chữ “H.E.F” và viết dòng chữ “0327444736”, “A.T1”, “CÁT MINH";

- 01 cái áo thun, màu xanh dương, mặt trước có in huy hiệu Trường Cao đẳng kinh tế đối ngoại, huy hiệu Đoàn thanh niên Cộng sản H1 và Hội S1; phía sau in dòng chữ Trường Cao đẳng K3, chiến dịch tình nguyện mùa hè xanh;

* Tuyên trả cho Phan Hồng T1:

- 01 điện thoại di động, hiệu Iphone X, màu đen, số IMEI 35674108062263, bên trong có gắn sim số 0393732339 của Phan Hồng T1;

- 01 điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen, bên trong có gắn sim số 0327444736 của Phan Hồng T1;

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST sung vào ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án.

9

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan CSĐT CA H. Phù Cát;
  • - Đội tham mưu tổng hợp CA H. Phù Cát;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Phù Cát;
  • - Chi cục THADS H.Phù Cát;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Lê Lân

10

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Hữu Lộc

Phan Thanh Long

Phan Lê Lân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 27/2024/HSST ngày 10/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số quyết định: 27/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THANH K- TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger