Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quyết định giám đốc thẩm

Số: 265/2023/DS-GĐT

Ngày: 16/11/2023

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN-TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thanh Duyên.

Các Thẩm phán: ông Võ Văn Cường.

ông Hoàng Thanh Dũng.

Thư ký phiên tòa: ông Trần Quốc Tuấn, Thẩm tra viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Lê Công Thành, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Đỗ Thị M, sinh năm 1964.

    Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

    Đại diện theo ủy quyền là ông Ngô Minh H, sinh năm 1964.

    Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

  2. Bị đơn: bà Vương Thị N, sinh năm 1947.

    Địa chỉ: Khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là bà Đỗ Thị M trình bày: Nguồn gốc diện tích 15.976,4m² đất tọa lạc tại Khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận đã được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ139660, số vào sổ cấp GCN:CH 00879 ngày 07/5/2015 là do bà nhận chuyển nhượng của ông Ngô Minh H và ông Ngô Vạn H1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C1 công chứng số 002961, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/02/2019. Đến ngày 08/3/2019 Chi nhánh Văn phòng Đ1 đã cập nhật biến động và chỉnh lý sang tên cho bà. Trong quá trình sử dụng đất có bà Vương Thị N là người có đất giáp ranh với đất của bà đã trồng cột bê tông và rào lưới kẽm gai lấn chiếm một phần đất nên bà làm đơn yêu cầu hòa giải tại địa phương, tại Thông báo hòa giải ngày 16/12/2019 của Ủy ban nhân dân phường P thể hiện phần đất đang tranh chấp có diện tích khoảng 5.000m² thuộc quyền sử dụng của bà M vì bà M đã được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 139660 ngày 07/5/2015 với tổng diện tích là 15.976,4m² và đã được chỉnh lý biến động ngày 08/3/2019 sang tên cho bà Đỗ Thị M. Trong khi đó bà N không có giấy tờ chứng minh đối với phần đất này nhưng bà N vẫn không đồng ý trả lại đất. Bà yêu cầu bà N trả lại 5.000,6m² đất đang lấn chiếm và sử dụng bất hợp pháp cho bà.

Bị đơn bà Vương Thị N trình bày: Nguồn gốc đất 5.000,6m² mà bà Đỗ Thị M tranh chấp tại khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận là do bà cùng với người em tên Trần Thị S khai hoang vào năm 1977; đến ngày 19/4/2002 thì bà cùng với bà S đã làm tờ khai hoang nguồn gốc đất, đồng thời đã mời Công ty TNHH Q chi nhánh B đo đạc đất có diện tích 21.031m², mục đích đo đạc là để đảm bảo sử dụng đúng diện tích đất của gia đình và bà đã rào diện tích đất này (bà S đã chết trên 10 năm không có chồng con). Việc bà Đỗ Thị M nhận chuyển nhượng từ ông Ngô Minh H và ông Ngô Vạn H1 như thế nào thì bà không biết. Việc bà M cho rằng bà lấn chiếm và rào lưới kẽm gai vào một phần 5.000,6m² đất của bà Mai d là không đúng sự thật vì đất này là đất của bà. Nên bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị M.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2021/DS-ST ngày 15/01/2021, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị M đối với bà Vương Thị N về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất (đòi lại tài sản)”.

Buộc bà Vương Thị N phải tháo dỡ 28 cọc xi măng và 01 hàng rào bằng kẽm gai để trả lại cho bà Đỗ Thị M 5000,6m² diện tích đất tại thửa đất số 01, tờ bản đồ số 13/2012 thuộc khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận đã được Ủy ban nhân dân T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 139660, số vào sổ cấp GCN: CH 00879 ngày 07/5/2015 và được Chi nhánh văn phòng Đ1 cập nhật biến động, chỉnh lý sang tên cho bà Đỗ Thị M vào ngày 08/3/2019. Có bản đồ vị trí cụ thể kèm theo, phần đất buộc trả có ký hiệu trên Mảnh trích đo địa chính ngày 04/6/2020 của Công ty TNHH A có kích thước các cạnh như sau: Từ điểm 4-5 = 79,21m; điểm 5-6 = 43,70m; điểm 6-7 = 99,10m; điểm 7-10=30,89m; điểm 10-11=220,47m; điểm 11-4= 18,56m.

Ngày 01/02/2021, bà Vương Thị N có đơn kháng cáo.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 69/2022/DS-PT ngày 06/6/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, quyết định:

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2021/DS-ST ngày 15/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Ngày 22/12/2022, bà Vương Thị N có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định kháng nghị số 228/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 22/9/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2021/DS-ST ngày 15/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Các bên tranh chấp diện tích 5.000,6m² đất tọa lạc tại Khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận có nguồn gốc là của ông Ngô Minh H và ông Ngô Vạn H1, phần đất nằm trong tổng diện tích 15.976,4m² được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/5/2015. Đến năm 2019, ông H và ông H1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho bà Đỗ Thị M theo quy định của Luật đất đai.

[2]. Tại Công văn số 7276/UBND-TH ngày 03/11/2020, Ủy ban nhân dân thành phố P có nội dung: “Việc UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ139660 ngày 07/5/2015 cho ông Ngô Minh C, thửa đất số 01, tờ bản đồ số 13/2012 diện tích 15.976,4m² đất trồng cây lâu năm là đúng trình tự, thủ tục quy định” và Công văn số 8482/CNVPĐKĐPT ngày 23/11/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 xác định: “nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ139660 do UBND thành phố P cấp ngày 07/5/2015 cho ông Ngô Minh C. Sau đó ông Ngô Minh C để lại tài sản thừa kế cho ông Ngô Minh H và ông Ngô Vạn H1 và được Chi nhánh Văn phòng Đ1 biến động thừa kế cho ông Ngô Minh H và ông Ngô Vạn H1 vào ngày 07/01/2019. Ngày 08/03/2019, Chi nhánh văn phòng Đ1 cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Đỗ Thị M. Hai nội dung thay đổi cơ sở pháp lý tại GCNQSDĐ, QSHNO và tài sản gắn liền với đất số BQ139660 nêu trên đúng trình tự thủ tục quy định” và tại Công văn số 738/UBND ngày 29/6/2020 của Ủy ban nhân dân phường P, có nội dung: “Quá trình sử dụng đất của bà Vương Thị N không đăng ký với cơ quan địa chính. Bà N không thực hiện các nghĩa vụ nộp thuế đối với thửa đất này. Tại sổ mục kê của địa phương năm 1999 thửa đất này trước đây không ghi chủ tên ai, mục đích sử dụng thể hiện là Bạch Đ với diện tích 65.369m². Việc bà N sử dụng thửa đất này không đúng quy định pháp luật về đất đai”. Do đó, có căn cứ xác định nguồn gốc đất trên là của ông Ngô Minh C để lại thừa kế cho ông Ngô Minh H và ông Ngô Vạn H1 theo quy định của pháp luật.

[3]. Mặt khác, vào năm 2011 giữa ông C và bà N tranh chấp quyền sử dụng đất đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P giải quyết tại Quyết định số 141/QĐ-UBND ngày 05/4/2011 và Quyết định số 1200/QĐ-UBND ngày 21/6/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc không chấp nhận đơn khiếu nại của bà N đối với diện tích 20.000m² đất, trong đó có diện tích 5.000,6m² đất mà bà N đang tranh chấp với bà M. Lẽ ra, khi thụ lý giải quyết vụ án Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì mới đúng quy định. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận khởi kiện của bà M yêu cầu bà N hoàn trả diện tích 5.000,6m² đất cũng không làm thay đổi nội dung giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các bên.

[4]. Từ những phân tích nêu trên, nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hủy Bản án dân sự phúc thẩm và Bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết lại sơ thẩm, là không có căn cứ để chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 337; Điều 341; Điều 342 và Điều 343 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

  1. Không chấp nhận kháng nghị số 228/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 22/9/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự phúc thẩm số 69/2022/DS-PT ngày 06/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Đỗ Thị M với bị đơn là bà Vương Thị N.
  3. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

ỦY BAN THẨM PHÁN

CÁC THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Cường

Hoàng Thanh Dũng

Huỳnh Thanh Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 265/2023/DS-GĐT ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số quyết định: 265/2023/DS-GĐT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Đỗ Thị M kiện bà Vương Thị N về "Tranh chấp quyền sử dụng đát"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger