|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST;
Ngày: 11/01/2024.
V/v tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Túy Như.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Võ Văn Tốt.
2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 973/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1178/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1242/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Trần Mỹ L – sinh năm 1986;
Địa chỉ: A hẻm A, Tổ C, Khu phố D, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
* Bị đơn: Ông Hồng Văn N – sinh năm 1985;
Địa chỉ: A, Tổ I, Khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2023 và quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn – bà Trần Mỹ L trình bày:
Bà và ông Hồng Văn N sống chung với nhau vào năm 2004, đăng ký kết hôn vào năm 2007 theo giấy chứng nhận kết hôn số 38 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/02/2007.
Năm 2021 vợ chồng bà xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống trong mọi vấn đề nên vợ chồng bà thường xuyên cãi vã. Mặt khác hai bên gia đình cũng có mâu thuẫn nên vợ chồng bà không thể tiếp tục sống chung nên đã sống ly thân. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Hồng Văn N.
Về con chung: Bà và ông N có với nhau 03 người con chung tên Hồng Gia B, sinh ngày 06/10/2005; Hồng Gia H, sinh ngày 27/01/2008 và Hồng Bảo N1, sinh ngày 13/10/2018. Bà xin giao cả 03 con chung cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Quận 12 đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn – ông Hồng Văn N. Tuy nhiên, bị đơn đã không có bất kỳ ý kiến nào về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tòa án nhân dân Quận 12 tiếp tục tiến hành triệu tập các đương sự tham gia các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ. Tuy nhiên, bị đơn thường xuyên, liên tục vắng mặt không có lý do nên việc hòa giải đã không thể tiến hành. Vụ án được đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 22 tháng 12 năm 2023, bị đơn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử đã phải hoãn phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 233 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có mặt và giữ nguyên các ý kiến, yêu cầu như đã trình bày trước đây trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1/ Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Trần Mỹ L yêu cầu được ly hôn với ông Hồng Văn N. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn đang cư trú tại: A, Tổ I, Khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Về các yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của các đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở pháp lý để kết luận:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Mỹ L và ông Hồng Văn N sống chung với nhau từ năm 2004, đến năm 2007 thì đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 38 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/02/2007. Như vậy, hôn nhân của bà L và ông N được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Về con chung: Quá trình sống chung giữa nguyên đơn và bị đơn có với nhau 03 người con chung tên Hồng Gia B, sinh ngày 06/10/2005; Hồng Gia H, sinh ngày 27/01/2008 và Hồng Bảo N1, sinh ngày 13/10/2018. Nguyên đơn xin giao cả 03 con chung cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn xác định không có.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Hồng Văn N đã được triệu tập đến Tòa án để tiến hành thu thập chứng cứ và hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông N không đến Tòa làm việc. Điều này chứng tỏ ông N không còn thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà L. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh thì: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Trong trường hợp này, quá trình giải quyết vụ án, bà L cho rằng vợ chồng bà có nhiều mâu thuẫn nên đã sống ly thân, ông N không có ý kiến phản đối nên lời khai này của bà L là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Do đó, đã có đủ cơ sở để xác định quan hệ tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không còn, tình trạng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng thực sự là trầm trọng, mục đích hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc thực sự không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Tại thời điểm bà L nộp đơn ly hôn, trẻ Hồng Gia B, sinh ngày 06/10/2005 chưa tròn 18 (mười tám) tuổi nên bà L yêu cầu giao cả 03 con chung tên Hồng Gia B, sinh ngày 06/10/2005; Hồng Gia H, sinh ngày 27/01/2008 và Hồng Bảo N1, sinh ngày 13/10/2018 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, tại thời điểm xét xử vụ án, trẻ B đã trên 18 tuổi. Theo quy định tại Điều 20 Bộ luật dân sự năm 2015 thì người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên. Theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Do vậy, Toà án không xem xét, giải quyết việc giao con đã thành niên là trẻ Hồng Gia B cho nguyên đơn hay bị đơn nuôi dưỡng. Tại phiên toà, nguyên đơn khai hiện nay cả 03 người con chung đang sống với bị đơn và bị đơn có đủ khả năng để nuôi dưỡng các con. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có ý kiến gì về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác, nguyện vọng của trẻ H mong muốn được ở với ba. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L là giao 02 con chung chưa trưởng thành tên Hồng Gia H, sinh ngày 27/01/2008 và Hồng Bảo N1, sinh ngày 13/10/2018 cho ông Hồng Văn N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của trẻ, đồng thời tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho bà L cho đến khi một hoặc hai bên có yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn xác định không có.
Về án phí ly hôn: Bà Trần Mỹ L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý việc sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự;
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Trần Mỹ L được ly hôn với ông Hồng Văn N.
2/ Về con chung: Có 03 con chung tên Hồng Gia B, sinh ngày 06/10/2005 (đã trưởng thành); Hồng Gia H, sinh ngày 27/01/2008 và Hồng Bảo N1, sinh ngày 13/10/2018. Giao 02 con chung chưa trưởng thành tên Hồng Gia H, sinh ngày 27/01/2008 và Hồng Bảo N1, sinh ngày 13/10/2018 cho ông Hồng Văn N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho bà Trần Mỹ L cho đến khi một hoặc hai bên có yêu cầu.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con. Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
3/ Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4/ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Buộc bà Trần Mỹ L phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng mà bà L đã nộp khi khởi kiện theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0030731 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Mỹ L đã nộp đủ án phí.
5/ Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6/ Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 38 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/02/2007 không còn giá trị.
7/ Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Túy Như |
Quyết định số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số quyết định: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
