|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 256/2024/QĐ-TA |
Thành phố Thủ Đức, ngày 15 tháng 4 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Thái Bình.
Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Xuân Thu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp công khai giải quyết hồ sơ thụ lý số: 242/2024/XLST ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số: 200/2024/QĐ-TA ngày 04 tháng 4 năm 2024, đối với:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc D
Sinh năm: 1985
Số định danh: 079085030906
Giới tính: Nam
Nghề nghiệp: Thợ sơn nước
Nơi đăng ký thường trú: A Đường số I, Khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định
Con ông: Không rõ
Con bà: Nguyễn Thị T
Tiền án: 03 tiền án
Tiền sự: 03 tiền sự
Ông Nguyễn Ngọc D bị đưa vào Cơ sở Cai nghiện ma túy Thanh Thiếu N 2 từ ngày 30 tháng 01 năm 2024.
Ông Nguyễn Ngọc D có đơn xin vắng mặt.
Có sự tham gia của:
- Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Đoàn Nhị S - Chức vụ: Chuyên viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên họp: Ông Trần Đức Sơn – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Vào ngày 26 tháng 01 năm 2024, Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Ngọc D vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tiến hành xác minh nơi cư trú của ông D.
Tại Phần kết quả trả lời xác minh thông tin về cư trú của Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận ông Nguyễn Ngọc D có đăng ký thường trú tại địa chỉ A Đường số I, Khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện tại không thực tế cư trú tại địa phương. Ông Nguyễn Ngọc D có tiền án về tội trộm cắp tài sản và 03 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Phần kết quả trả lời xác minh thông tin về cư trú của Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận ông Nguyễn Ngọc D không thực tế cư trú và sinh sống tại địa chỉ 1 N, Tổ F, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính và kết quả xác minh thể hiện ông Nguyễn Ngọc D là người sử dụng chất ma tuý, không có nơi cư trú ổn định nên lập hồ sơ đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T quyết định đưa vào Cơ sở Cai nghiện ma túy T1, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở Cai nghiện ma túy T1 2 ngày 29 tháng 01 năm 2024 đã kết luận ông Nguyễn Ngọc D là người nghiện ma tuý, tên loại ma túy sử dụng là MET (Methamphetamine).
Ngày 31 tháng 01 năm 2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T ban hành Quyết định số 39/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Ngọc D và ra Thông báo số 41/TB-UBND ngày 20 tháng 3 năm 2024 thông báo cho ông D biết về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T đã có ban hành văn bản số 239/ĐN-CNBB về việc Đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Ngọc D, tại: Cơ sở Cai nghiện ma túy P; địa chỉ: xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; thời gian cai nghiện 21 đến 24 tháng.
Tại phiên họp:
- Đại diện Phòng Lao động Thương binh Xã hội thành phố T giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Ngọc D trong thời hạn từ 21 đến 24 tháng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không có nơi cư trú ổn định.
- Người bị đề nghị ông Nguyễn Ngọc D đã được tống đạt các thủ tục hợp lệ nhưng có đơn xin vắng. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ông D đều thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính ngày 26 tháng 01 năm 2024. Đối với đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T, ông D không có ý kiến gì và xin Tòa án xem xét cho được sớm trở về địa phương để làm ăn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý hồ sơ đến phiên họp hôm nay, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và những người tham gia phiên họp đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án chấp thuận đề nghị của Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Ngọc D.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, Thẩm phán nhận định:
[1] Về thời hiệu: Ông Nguyễn Ngọc D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 26 tháng 01 năm 2024. Ngày 15 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức mở phiên họp xem xét đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D là còn trong thời hiệu được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).
[2] Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Ngọc D là Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có trụ sở tại thành phố T nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có thẩm quyền xem xét giải quyết theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[3] Về tính pháp lý của hồ sơ đề nghị: Việc xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thời hạn theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
[4] Tại phiên họp, ông Nguyễn Ngọc D thừa nhận hành vi vi phạm hành chính là sử dụng trái phép chất ma túy. Tòa án xét thấy lời khai nhận của ông D phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ, khi bị Công an phát hiện lập biên bản vi phạm ông D nhận lỗi vi phạm. Tại Bản tường trình; Biên bản ghi lời khai, ông D đều thừa nhận có sử dụng ma túy. Các kết quả xét nghiệm đều xác định ông D dương tính với ma túy. Về nơi cư trú: Tại phiên họp cũng như trong quá trình các cơ quan chức năng lập hồ sơ, ông D khai nhận không có nơi cư trú ổn định.
[5] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ông Nguyễn Ngọc D là người đủ 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, bị nghiện ma túy, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không có nơi cư trú ổn định và không thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 27, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Vì vậy, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Ngọc D là có căn cứ pháp luật, nên chấp nhận.
Xét thấy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông Nguyễn Ngọc D đã vi phạm các quy định về quản lý trật tự, an toàn xã hội, việc nghiện ma túy không những ảnh hưởng tới sức khỏe, gây thiệt hại về vật chất, tinh thần của bản thân mà còn là nguyên nhân của nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong một thời gian thích hợp nhằm tạo điều kiện cho ông Nguyễn Ngọc D được cai nghiện, chữa bệnh, học tập và tái hòa nhập cộng đồng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Quá trình lập hồ sơ xử lý hành chính, ông D đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, tích cực điều trị tại Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh Thiếu Niên 2, đây được xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), do đó cần xem xét giảm một phần thời gian áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cho ông D theo quy định.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ các Điều 6, Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
Căn cứ Điều 27; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;
Căn cứ Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Ngọc D.
Cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma túy P; địa chỉ: xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày ông Nguyễn Ngọc D bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 30 tháng 01 năm 2024).
Trong thời gian chấp hành cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.
- Ông Nguyễn Ngọc D có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
- Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
- Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; Công an thành phố T và Cơ sở Cai nghiện ma túy P có trách nhiệm thi hành quyết định này./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Nguyễn Thái Bình |
Quyết định số 256/2024/QĐ-TA ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Số quyết định: 256/2024/QĐ-TA
- Quan hệ pháp luật: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Dũng - QĐ áp dụng biện pháp xử lý hành chính
