Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 2516/2024/QÐST-HNGĐ

Thành phố Thủ Đức, ngày 18 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ vào Điều 397, Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Luật Phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số: 1170/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Lê Thị Ngọc T, sinh năm 1996

Địa chỉ: số C Đường B, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Và ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1993

Địa chỉ: số C, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Lê Thị Ngọc T và ông Nguyễn Thanh T1 tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn ngày 05 tháng 11 năm 2020 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 100/2020.

Sau khi kết hôn, cuộc sống chung hạnh phúc được được khoảng một năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm về lối sống, tính cách, không tìm được tiếng nói chung, tình cảm lạnh nhạt. Từ tháng 4 năm 2022 đến nay, ông bà đã sống ly thân. Trong thời gian ly thân, hai bên có trao đổi chuyện hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị Ngọc T và ông Nguyễn Thanh T1 yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

[2] Về con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Lê Gia B, sinh ngày 27 tháng 01 năm 2021. Hai bên thống nhất khi ly hôn: bà Lê Thị Ngọc T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con; ông Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000 đồng/con, việc giao nhận tiền cấp dưỡng do hai bên tự thực hiện vào ngày 01 (dương lịch) hàng tháng, bắt đầu từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Ngọc T và ông Nguyễn Thanh T1 tự khai không có.

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hòa giải đoàn tụ không thành lập ngày 10 tháng 6 năm 2024 là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc T và ông Nguyễn Thanh T1 thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Giao bà Lê Thị Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục người con chung duy nhất tên Nguyễn Lê Gia B, sinh ngày 27 tháng 01 năm 2021. Ông Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000 đồng/con, việc giao nhận tiền cấp dưỡng do hai bên tự thực hiện vào ngày 01 (dương lịch) hàng tháng, bắt đầu từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bà Lê Thị Ngọc T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Thanh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải chịu khoản lãi đối với số tiền cấp dưỡng chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức tiền cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc của người không trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Ngọc T và ông Nguyễn Thanh T1 tự khai không có.

2. Về lệ phí Tòa án: Bà Lê Thị Ngọc T và ông Nguyễn Thanh T1 mỗi người phải chịu 150.000 đồng tiền lệ phí hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng mà bà Lê Thị Ngọc T, ông Nguyễn Thanh T1 đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng số: 0026933 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị Ngọc T, ông Nguyễn Thanh T1 đã nộp đủ lệ phí.

3. Giấy chứng nhận kết hôn số 100/2020, đăng ký ngày 05 tháng 11 năm 2020 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận I nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Lê Thị Ngọc T và ông Nguyễn Thanh T1 không còn giá trị pháp lý.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

THẨM PHÁN

Trần Thị Lệ Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 2516/2024/QÐST-HNGĐ ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về công nhận thuận tình ly hôn

  • Số quyết định: 2516/2024/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: công nhận
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger