|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 250/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30 tháng 5 năm 2024
“V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình“
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiểu
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Tiến Lợi
- Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2024/TLST–HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 202 về việc tranh chấp Ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1979.
Nơi ĐKHKTT và cư trú tại: Xóm S, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Có Đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1978.
Nơi ĐKHKTT và cư trú tại: Xóm S, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Có Đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Ngày 04 tháng 9 năm 1999, chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Văn L trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, thành phố Hà Nội (ĐKKH số: 44; Quyền số 01 ngày 04/9/1999). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại địa chỉ: Xóm S, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Sau một thời gian chung sống vợ chồng nhận ra cuộc sống vợ chồng gặp rất nhiều điểm khác biệt, không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn cãi nhau, đã nhiều lần anh L đánh, đuổi chị T, hôn nhân không hạnh phúc. Năm 2022, có lần vợ chồng mâu thuẫn anh L đánh chị, chị T phải về nhà bố mẹ đẻ tôi để chăm sóc vết thương, sau đó do anh L sang nói chuyện với gia đình chị nên chị T về tiếp tục chung sống. Đến đầu tháng 3/2024, vợ chồng lại xung đột cãi nhau anh L đánh chị nên chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống ly thân cho đế nay. Hiện chị T đang ở nhà bố mẹ đẻ tại thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, chị không còn tình cảm với anh L nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thị L1, sinh ngày 14/01/2001; Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/04/2002, 02 cháu đã trưởng thành đủ 18 tuổi, sức khỏe thể chất, tâm thần bình thường; cháu Nguyễn Năng Đ, sinh ngày 14/12/2009. Hiện tại cháu Nguyễn Năng Đ đang ở cùng anh L, sức khỏe cháu bình thường. Do cháu cũng có nguyện vọng ở với bố nên chị T đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Năng Đ cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có thỏa thuận khác, quyết định thay đổi khác. Chị T đề nghị không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công sức: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị T xác định không có.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn L xác định về việc kết hôn, đăng ký kết hôn như chị T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại Xóm S, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội và có quá trình chung sống như chị T trình bày là đúng. Anh L xác định vợ chồng có mâu thuẫn do kinh tế, đã nhiều lần đánh cãi chửi nhau, chị T cũng có lần dùng gậy đánh lại anh L. Nay, chị T có đơn xin ly hôn anh L cho rằng mẫu thuẫn vợ chồng không trầm trọng đến mức phải lý hôn nên không đồng ý và đề nghị Tòa án cho vợ chồng tôi có thêm thời gian để đoàn tụ nuôi dạy các con.
Về con chung: Anh L xác nhận vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thị L1, sinh ngày 14/01/2001; Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/04/2002 02 cháu đã trưởng thành đủ 18 tuổi và Nguyễn Năng Đ, sinh ngày 14/12/2009. Hiện tại cháu Nguyễn Năng Đ đang ở cùng anh L, sức khỏe cháu bình thường. Nếu phải ly hôn anh L đề nghị Tòa án giao Nguyễn Năng Đ cho anh trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có thỏa thuận khác, quyết định thay đổi khác. Anh L không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công sức: Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Anh L xác định không có.
Quá trình giải quyết tại Tòa án chị T, anh L đã đến Tòa án làm việc theo Giấy triệu tập của Tòa án, đã viết Bản tự khai và thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại Xóm S, thôn T, xã T đại diện Thôn và đại diện Công an xã T nơi chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1979 và anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1978 đại diện thôn và chính quyền xác định Anh T, Chị L kết hôn trên cơ sở tự nguyên có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, C, trong quá trình chung sống chị T, anh L có 03 con chung như chị T, anh L trình bày là đúng. Quá trình chung sống tại địa phương anh T, chị L thường xuyên mâu thuẫn và hiện tại đã sống ly thân.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T có Đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L có Đơn xin xét xử vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ và đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 54, 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, xử cho chị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
Về con chung: Chị T, anh L có 03 con chung Nguyễn Thị L1, sinh ngày 14/01/2001 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi); Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/04/2002 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi). Nguyễn Năng Đ, sinh ngày 14/12/2009.
Giao cháu Nguyễn Năng Đ, cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con cho đến khi có yêu cầu, thay đổi khác.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1.] Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị T có Đơn khởi kiện đối với anh Nguyễn Văn L về việc xin ly hôn, nuôi con nên xác định đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn anh Nguyễn Văn L hiện có Hộ khẩu thường trú và cư trú tại Xóm S, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, nên Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP . thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự vắng mặt của Nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng có Đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh L.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hà Nội ngày 04/9/1999 tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân là hợp pháp.
[2.2]. Xét mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L:
Chị T xác định vợ chồng nhiều mẫu thuẫn, cuộc sống vợ chồng gặp rất nhiều điểm khác biệt, không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn cãi nhau, đã nhiều lần anh L đánh, đuổi chị T, hôn nhân không hạnh phúc. Anh L cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn do kinh tế, đã nhiều lần đánh cãi chửi nhau, chị T cũng có lần dùng gậy đánh lại anh L, anh L cho rằng mẫu thuẫn vợ chồng không trầm trọng đến mức phải ly hôn. Hiện vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2024. Anh L không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Kết quả xác minh tại nơi chị T, anh L cư trú cho biết vợ chồng chị T, anh L thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau và hiện tại đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị T vẫn cương quyết xin được ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T, là phù hợp với quy định của pháp luật để cả hai ổn định cuộc sống.
[2.3]. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:
Vợ chồng chị T, anh L có 03 con chung Nguyễn Thị L1, sinh ngày 14/01/2001; Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/04/2002, 02 cháu đã trưởng thành đủ 18 tuổi, sức khỏe thể chất, tinh thần bình thường và cháu Nguyễn Năng Đ, sinh ngày 14/12/2009.
Hiện tại cháu Nguyễn Năng Đ đang ở cùng anh L, sức khỏe thể chất, tinh thần cháu bình thường. Anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Xét thấy, nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn của anh L là chính đáng và chị T đồng ý để anh L trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Năng Đ sau khi ly hôn. Xét thấy, sự thống nhất về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh L, chị T đảm bảo điều kiện phát triển toàn diện cho cháu Đ về tâm sinh lý, thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc thỏa thuận của anh L, chị T giao cháu Nguyễn Năng Đ cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Anh L không đề nghị chị T cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác.
[2.4]. Về tài sản chung, công sức: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.5]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 172, Điều 177, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn L.
2. Về con chung: Vợ chồng chị T, anh L có 03 con chung Nguyễn Thị L1, sinh ngày 14/01/2001 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi); Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/04/2002 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi); Nguyễn Năng Đ, sinh ngày 14/12/2009.
Giao cháu Nguyễn Năng Đ, sinh ngày 14/12/2009 cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu Nguyễn Năng Đ đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu, thay đổi khác.
Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị T kể từ khi ly hôn cho đến khi có quyết định, thay đổi khác.
3. Về công nợ chung, tài sản chung, công sức chung: Không xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được đối trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số AA/2020/0001894 ngày 08 tháng 4 năm 2024.
5. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quang Hiểu |
Quyết định số 250/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số quyết định: 250/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự
