Hệ thống pháp luật
THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 25/2024/DS-GĐT ngày 20/06/2024 của Tòa án nhân dân tối cao về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số quyết định: 25/2024/DS-GĐT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tối cao
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tại Đơn khởi kiện ngày 15/9/1994 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là cụ Nguyễn Văn L, người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ L là bà Nguyễn Thị V trình bày: Cố Nguyễn Văn L5 có hai vợ, vợ cả là cố Nguyễn Thị N7, vợ hai là cố Quan Thị T16. Cố L5 và cố N7 có ba người con chung là cụ Nguyễn T17, cụ Nguyễn Thị T18, cụ Nguyễn Thị T19. Cố L5 và cố T16 có 01 người con chung là cụ Nguyễn Văn L. Cố L5 chết năm 1942, cố N7 chết năm 1917, cố T16 chết năm 1960 đều không để lại di chúc. Vợ chồng cụ T17 có 06 người con là ông Nguyễn Q, ông Nguyễn T3, ông Nguyễn K, bà Nguyễn Thị Khánh V1, bà Nguyễn Thị Giao T20 (chết năm 1982, có chồng là ông Trần Chu M6 và các con là chị Trần Thị T9, chị Trần Thị B3, anh Trần Chu Đ2, anh Trần Chu T10, chị Trần Thị D1, anh Trần Chu M7), bà Nguyễn Thị H10 (chết năm 1962, có chồng là ông Đinh Quang V2 và các con là anh Đinh Minh H5, anh Đinh Quang H7, chị Đinh Bích H6, chị Đinh Thị Ngọc B2). Vợ chồng cụ T18 có 7 người con là ông Ngô Viết K2, bà Ngô Thị M8, ông Ngô Viết H8, bà Ngô Thị S, ông Ngô Viết H1, bà Ngô Thị K1, ông Ngô Quốc D2. Vợ chồng cụ T19 có 07 người con là ông Trần Nguyệt C3, ông Trần Ngọc H3, bà Trần Thị P, ông Trần Nguyệt T8, bà Trần Thị P1, bà Trần Thị H4, ông Trần Nguyệt B1. Về tài sản: Cố L5 có thửa đất số 16 và số 19 tại làng Cư L, xã Nhân C, huyện Từ L, thành phố Hà Nội (nay là số 39B, Tổ 2, phường Thượng Đ, quận Thanh X, thành phố Hà Nội). Trên đất có một nhà thờ 05 gian, vườn, ao. Năm 1946, gia đình cố L5 đi tản cư. Năm 1952, trở về thì nhà thờ bị phá hỏng chỉ còn nền móng nhà nên cụ T17 (đại diện cho gia đình) thuê cụ Cai M11 trông coi. Năm 1952 cụ T17 bán đất ruộng (ở thửa đất khác) để lấy tiền sửa nhà thờ và trả dần tiền thuê cụ Cai M11. Trong thời gian trông coi, cụ Cai M11 đã cho hai con trai là ông Đỗ Kim T và ông Đỗ Quang T4 làm nhà ở trên nền nhà thờ cũ của cố L5. Năm 1960 cụ T17 đứng tên kê khai trong sổ mục kê của xã Nhân C toàn bộ diện tích đất trên. Năm 1971, cụ T17 về ở trên nhà đất này. Năm 1974, cụ T17 bán khoảng 56m2 đất cho ông T21 (nay là bà Tuyết T22 ở). Năm 1976, cụ T17 làm nhà 04 gian cấp 4 để ở và làm nơi thờ cúng. Tiền làm nhà lấy từ tiền bán ruộng còn lại và tiền bán đất cho ông T21. Các năm 1985, 1987 cụ T17 gọi cụ L, cụ T18 về ở nhưng chỉ có cụ T18 về, cụ T18 bồi thường hoa màu cho ông T4, ông T (con cụ Cai M11) 400.000 đồng để lấy khoảng 200m2 đất làm nhà, hiện nay ông H1 (con cụ T18) đang ở. Năm 1988, cụ T17 chết thì ông Q (con trai trưởng) quản lý phần đất còn lại. Quá trình quản lý, ông Q đã nhiều lần bán đất cho ông Nguyễn Đức Q2, bà Hoàng Thị Kim T7 và ông Vũ Hữu N5 (sau khi mua đất của ông Q, ông Q2 đã san lấp và bán lại cho những người khác).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger