|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 296/2024/DSST Ngày: 21/5/2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Ông Nguyễn Tùng
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đồng Văn Nam - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28 tháng 3 năm 2024, ngày 22 tháng 4 năm 2024 và ngày 21/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 520/2022/TLST-DS ngày 28/11/2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1162/2024/QĐST-DS ngày 06/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 3853/2024/QĐST-DS ngày 28/3/2024 và Quyết định ngừng phiên tòa số 5123/2024/QĐST-DS ngày 22/4/2024 giữa:
Nguyên đơn:
Bà Trần Điền Huyền T, sinh năm 1995; địa chỉ: B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: 26 N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Điền Minh N, sinh năm 1996; địa chỉ: C T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 12/7/2022, số công chứng: 008582, Quyển số: 07/2022 TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Phòng công chứng Nguyễn Kim C). (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Thu H- Luật sư thuộc Công ty L – Đoàn luật sư thành phố H (có mặt).
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn K;
- Bà Phạm Thị Kim Y
Cùng địa chỉ: 5 đường số D, khu phố E, phường T, tp T, Thành phố Hồ Chí Minh. (ông K và bà Y vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H
- Bà Huỳnh Ngọc H1, sinh năm 1960; địa chỉ: 320/ B G T, phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hoàng H2, địa chỉ: 2 Đ, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
Địa chỉ: F L, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Minh P; địa chỉ chi nhánh: E Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số 2130/GUQ-STNMT-VPĐK ngày 21/3/2023 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H). (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại Đơn khởi kiện ngày 11 tháng 7 năm 2022, Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 10/11/2022, bản tự khai ngày 05/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – bà Trần Điền Huyền T và người đại diện theo ủy quyền là ông Điền Minh N trình bày:
Bà Trần Điền Huyền T sở hữu căn nhà và đất tại địa chỉ số F đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất Sổ vào số cấp GCN: CH 00971 vào ngày 16/5/2011 do Ủy ban nhân dân quận T cấp cho ông Bùi Hữu N1, đăng ký thay đổi ngày 29/8/2014 cho ông Lê Thanh D, đăng ký thay đổi ngày 12/7/2019 cho bà Trần Điền Huyền T, tại thửa số 550, tờ bản đồ số 63 với diện tích 475,5 m². Theo giấy chứng nhận thể hiện lối đi chung ra đường số D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, cuối năm 2021, gia đình bà T phát hiện hộ gia đình ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y đã tiến hành rào chắn bít lối đi chung này khiến gia đình của bà T không còn lối đi vào nhà, đất của mình.
Bà Trần Điền Huyền T đã làm đơn kiến nghị xem xét về việc gia đình ông K, bà Y rào chắn lối đi chung, cản trở sử dụng lối đi chung lên Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đã lập Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai giữa bà Trần Điền Huyền T với ông Nguyễn Văn K - bà Phạm Thị Kim Y ngày 17/8/2022.
Khi thấy quyền lợi bị xâm phạm, bà T đã làm đơn kiến nghị xem xét về việc rào chắn lối đi chung, cản trở sử dụng lối đi chung đến cơ quan quản lý đất đai của địa phương. Thông qua kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T và Ủy ban nhân dân phường T đã lập Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai giữa bà Trần Điền Huyền T với ông Nguyễn Văn K - bà Phạm Thị Kim Y ngày 17/8/2022 thì bà T được biết các thông tin sau:
Biên bản làm việc ngày 24/3/2022 của Ủy ban nhân dân phường T: Bà T nhận chuyển nhượng QSDĐ SHNO và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ BĐ 942200 ngày 16/5/2011 do UBND quận T cấp trong đó thể hiện lối đi chung đất ra đường số D. Tuy nhiên, tháng 11/2021 bà T xuống thăm nhà đất không thể đi vào được do ông Nguyễn Văn K và Phạm Thị Kim Y đã xây dựng tường rào bít lối đi chung vào nhà đất của bà T.
Thông báo số 1040/TNMT ngày 11/5/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T về trả lời đơn kiến nghị của công dân thể hiện việc lối đi chung của gia đình bà T theo giấy chứng nhận được cấp “đúng với vị trí lối đi chung được ông bà Trần Tấn H3 – Ngô Thị T1 thể hiện kê khai 3376 năm 1999 và được bà Huỳnh Ngọc H1 ký giáp ranh”. Tuy nhiên sau đó, phần diện tích lối đi chung này lại được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 121465 ngày 13/01/2017 cho bà Huỳnh Ngọc H1. Năm 2018, được cấp cho ông Nguyễn Hoàng H2, năm 2019 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y và hiện gia đình bà T bị mất lối đi vào nhà đất của mình.
Như vậy, lối đi chung ra đường số 4 của gia đình bà T là hiện hữu, đã được kê khai, ký giáp ranh thể hiện từ năm 1999 trên giấy chứng nhận đã cấp cho gia đình bà T và được gia đình bà T sử dụng từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2011. Việc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H năm 2017 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 121465 ngày 13/01/2017 cho bà Huỳnh Ngọc H1 gộp chung phần diện tích lối đi chung cho bà Huỳnh Ngọc H1 sử dụng riêng (nay ông K bà Y là người nhận chuyển nhượng) là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Quyết định sai trái trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H nêu trên làm cho phần diện tích lối đi chung vốn được sử dụng chung nay lại thuộc quyền sử dụng riêng của ông K và bà Y, dẫn đến việc gia đình và T bị mất lối đi chung và đây cũng là đường ra vào nhà duy nhất của gia đình bà T.
Do đó, bà T có đủ cơ sở cho rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 121465 ngày 13/01/2017 của bà Huỳnh Ngọc H1 và sau đó chuyển nhượng cho bà Y và ông K, trong đó công nhận phần đất thuộc lối đi chung của gia đình bà T thành đất thuộc quyền sử dụng riêng của bà H1 là trái pháp luật và việc ông K, bà Y rào chắn lối đi chung là xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bất động sản liền kề, dẫn đến nhà của gia đình bà T hiện nay không có đường ra vào.
Nay, bà Trần Điền Huyền T khởi kiện yêu cầu:
- Công nhận quyền sử dụng hợp pháp lối đi chung với diện tích là 67,392 m² có chiều ngang 2,60 m, dài 25,92 m tọa lạc tại thửa 592, tờ bản đồ số 63, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có địa chỉ: Số E đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 121465 ngày 13/01/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Huỳnh Ngọc H1 và nay được chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y) liên quan tới phần diện tích lối đi chung;
- Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y phải dỡ bỏ tường rào gạch bê tông và các công trình khác đã xây dựng trên phần đất lối đi chung để cho gia đình bà T được quyền sử dụng lối đi chung từ đất tới đường số D, chiều ngang 2,60 m, dài 25,92 m.
Ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y là bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Huỳnh Ngọc H1, ông Nguyễn Hoàng H2 không có bản tự khai và vắng mặt các Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không thu thập được ý kiến của những người này về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Riêng bà Phạm Thị Kim Y có mặt và có ý kiến thể hiện tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 17 tháng 8 năm 2023 như sau: Hiện nay, bà sử dụng đất theo hiện trạng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CE 121465 ngày 13 tháng 01 năm 2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H có giấy ủy quyền, Đơn xin vắng mặt và có gửi kèm Công văn số 12472 ngày 10/7/2023 của Văn phòng Đ - Chi nhánh thành phố T với nội dung như sau:
- Nhà đất số E đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T:
- Năm 2017, hộ bà Huỳnh Ngọc H1 chuyển nhượng nhà đất lại cho hộ ông Huỳnh Trung Q theo hồ sơ số 46926.CN.001 (đã cập nhật biến động sang tên ngày 16/6/2017 trên trang 3 giấy chứng nhận số CC 980060).
- Năm 2018, ông Huỳnh Trung Q chuyển nhượng nhà đất lại cho ông Nguyễn Hoàng H2 theo hồ sơ số 46926.CN.002 (đã cập nhật biến động sang tên ngày 09/12/2019 trên trang 4 giấy chứng nhận số CC 980060).
- Năm 2020, ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y thế chấp ngày 26/11/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T theo hồ sơ số 046926.25515.TC.006).
- Năm 2018, bà Huỳnh Ngọc H1 chuyển nhượng đất lại cho ông Nguyễn Hoàng H2 theo hồ sơ số 47481.CN.001 (đã cập nhật biến động sang tên ngày 03/12/2018 trên trang 4 giấy chứng nhận số CE 121465).
- Ngày 23/7/2020, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Đ cập nhật hạn chế trên trang 4 giấy chứng nhận số CE 121465 với nội dung: “Người sử dụng thửa đất số 602, tờ bản đồ số 63, tài liệu bản đồ năm 2005, được sử dụng lối đi trên thửa đất số 592, tờ bản đồ số 63, tài liệu bản đồ năm 2005 theo Giấy cam kết của ông Nguyễn Hoàng H2 được UBND phường T chứng thực chữ ký ngày 07/7/2020”, với phần lối đi chung xi măng rộng 2,6 m, được thể hiện trên bản vẽ sơ đồ nhà đất số 1486 ĐC/TP-2019 ngày 09 tháng 12 năm 2019 do Công ty TNHH Đ1 lập.
- Năm 2020, ông Nguyễn Hoàng H2 chuyển nhượng nhà đất lại cho ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y theo hồ sơ số 47481.CN.004, đã cập nhật biến động sang tên ngày 28/9/2020 trên trang 4 giấy chứng nhận số CE 121465.
- Năm 2020, ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Ngân hàng TMCP Q1 (đã đăng ký thế chấp ngày 25/11/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T theo hồ sơ số 047481.25519.TC.005).
- Đối với nội dung khởi kiện của bà Trần Điền Huyền T “Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 121465 ngày 13/01/2017 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Huỳnh Ngọc H1 (nay đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y) liên quan đến phần diện tích lối đi chung”:
Nguồn gốc: Trước năm 1975, đất vắng chủ. Sau năm 1975, Hợp tác xã N2 quản lý. Đến năm 1979, giao khoán cho ông Đặng Văn T2 sử dụng. Tháng 6 năm 1997, ông T2 chuyển nhượng đất cho bà Huỳnh Ngọc H1.
Năm 2001, bà Huỳnh Ngọc H1 lập hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận và được UBND quận T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 101666 ngày 12/11/2001 cho hộ Huỳnh Ngọc H1 với diện tích lúa 451,0 m², thuộc thửa 2018, tờ 3 theo tài liệu đo năm 1995.
Năm 2004, bà Huỳnh Ngọc H1 lập hồ sơ tách thửa chuyển mục đích sử dụng từ đất lúa sang đất xây dựng nhà ở theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 11479/CN ngày 11/8/2004 do Công ty TNHH D2 lập và được UBND quận T cho phép chuyển mục đích theo Quyết định số 1289/QĐ-UB ngày 22/9/2004.
Ngày 15/11/2004, bà Huỳnh Ngọc H1 được UBND quận T cấp giấy chứng nhận số AA 158386, với diện tích xây dựng nhà ở 200,0m², thuộc thửa 2523, tờ 03. Đồng thời, UBND quận T cập nhật biến động giảm diện tích 200 m² trên trang 4 giấy chứng nhận số T 101666, diện tích còn lại 251,0 m².
Năm 2013, bà H1 làm mất giấy chứng nhận số AA 158386 ngày 15/11/2004 và Giấy chứng nhận số T 101666 ngày 12/11/2001.
Ngày 24/02/2016, bà H1 được Sở T cấp lại Giấy chứng nhận số CC 980060 (từ giấy chứng nhận số AA 158386), với diện tích đất ở 200,0 m², thuộc thửa 586 (thửa cũ 2523, tờ 03), tờ 63, đồng thời công nhận phần kiến trúc nhà diện tích 123,3 m² do bà H1 xây dựng không phép năm 2005.
Đồng thời, ngày 13/01/2017, Sở T cấp lại Giấy chứng nhận số CE 121465 (giấy chứng nhận số T 101666) cho hộ bà Huỳnh Ngọc H1, với diện tích đất trồng lúa 248,9 m², thuộc thửa 592 (thửa cũ 2018, tờ 03), tờ 63.
- Đối với giấy chứng nhận số CC 980060 ngày 24/02/2016:
+ Đối với giấy chứng nhận số CE 121465 ngày 13/01/2017:
* Căn cứ pháp lý giải quyết:
Căn cứ Điều 77 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng do bị mất.
Căn cứ Điều 188 Luật đất đai năm 2013 quy định điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Căn cứ khoản 13, Điều 18 Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T3.
Do đó, ngày 13/01/2017, Sở T cấp lại Giấy chứng nhận số CE 121465 cho hộ Huỳnh Ngọc H1, Chi nhánh Văn phòng đất đai quận Đ đã cập nhật biến động sang tên ngày 03/12/2018, ngày 23/7/2020, ngày 28/9/2020 trên trang 3, trang 4 Giấy chứng nhận số CE 121465 là phù hợp các quy định nêu trên.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và Luật sư bảo vệ quyền và hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên toàn bộ ý kiến trình bày và về yêu cầu khởi kiện như trước đây.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Riêng bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Huỳnh Ngọc H1 và ông Nguyễn Hoàng H2 vắng mặt trong các buổi làm việc của Tòa án không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến .
Về nội dung: Căn cứ yêu cầu khởi kiện, ý kiến trình bày của đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, để có cơ sở giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thu thập chứng cứ về quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến diện tích đất tại cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H.
TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/7/2022, Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 10/11/2022, Hội đồng xét xử xác định nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng hợp pháp lối đi chung với diện tích là 67 m², địa chỉ: Số E đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 121465 ngày 13/01/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Huỳnh Ngọc H1 (nay đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y) liên quan tới phần diện tích lối đi chung. Do vậy, căn cứ quy định Điều 203 của Luật Đất Đai năm 2013 và khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37 và Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Về thủ tục tiền tố tụng
Theo Thông báo về việc hòa giải không thành số 267/TB-UBND ngày 23/8/2022 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xác định “Ủy ban nhân dân phường T có nhận đơn của bà Trần Điền Huyền T, địa chỉ: B NT3 Chung cư B N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu giải quyết hòa giải về tranh chấp đất đai, nội dung: Bà Trần Điền Huyền T sử dụng nhà, đất tại địa chỉ 6 đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 942200 ngày 16 tháng 5 năm 2011 do Ủy ban nhân dân quận T cấp, với diện tích đất ở đô thị 475,5 m², diện tích sàn 145,7 m² thuộc thửa đất số 550, tờ bản đồ số 63. Trên Giấy chứng nhận có thể hiện lối đi chung (đất) ra đường số D. Năm 2021, bà T phát hiện hộ gia đình ông Nguyễn Văn K-bà Phạm Thị Kim Y (chủ sử dụng đất kế bên) đã rào chắn lối đi chung, xâm phạm trực tiếp việc đi lại của bà T vào nhà đất nêu trên.
Sau khi xem xét đơn và xác minh các nội dung liên quan, Ủy ban nhân dân phường T đã tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai ngày 17 tháng 8 năm 2022. Tuy nhiên, các bên tranh chấp vẫn giữ ý kiến riêng nên không thỏa thuận thống nhất.
Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai giữa bà Trần Điền Huyền T với ông Nguyễn Văn K - bà Phạm Thị Kim Y ngày 17/8/2022 với đúng thành phần theo quy định tại Điều 202, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013 và Điều 88 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng các bị đơn và ông bà Huỳnh Ngọc H1, Nguyễn Hoàng H2 là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không cung cấp bản tự khai, chứng cứ. Riêng đại diện Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có cử người đại diện theo ủy quyền và người đại diện đã có bản tự khai và đơn xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành lập biên bản hòa giải không thành, Công khai chứng cứ và xét xử vắng mặt các đương sự này là có cơ sở theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[ 4] Về pháp luật áp dụng
[4.1] Về yêu cầu của nguyên đơn
[4.1.1] Về thực tế hiện trạng:
Căn cứ Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 17 tháng 8 năm 2023, Hội đồng xét xử xác định: Thửa đất số 550, tờ bản đồ số 63, địa chỉ số F đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, qua xác minh hiện trạng thực tế là đất trống không có đường đi, bị bao bọc bởi các thửa đất, các công trình, nhà ở, kiến trúc xây dựng của các chủ sở hữu và quyền sử dụng khác, không có lối ra đường công cộng.
[4.1.2] Về pháp lý:
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở số BĐ 942200 Sổ vào sổ cấp GCN: CH 00971 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 16/5/2011 cho ông Bùi Hữu N1 và cập nhật biến động sang tên ông Lê Thành D1 ngày 19/8/2014, sang tên bà Trần Điền Huyền T ngày 12/7/2019, thể hiện bà Trần Điền Huyền T có quyền sử dụng đất ở thửa đất số 550, tờ bản đồ số 63 với diện tích đất 475,5 m² và sở hữu căn nhà cấp 4, tường gạch mái tôn với diện tích xây dựng 145,7 m² tại số F đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong Giấy chứng nhận thể hiện có một đi chung (đất) có chiều ngang 2,60 m ra đường số D, phường T, thành phố T và điều này cũng phản ánh tại Biên bản làm việc ngày 24/3/2022 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T xác định: Bà T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 942200 ngày 16/5/2022 do Ủy ban nhân dân quận T cấp trong đó có thể hiện lối đi chung đất ra đường số D. Tuy nhiên, phần diện tích lối đi chung đã thể hiện trên giấy chứng nhận BD 942200 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 121465 ngày 13/01/2017 cho bà Huỳnh Ngọc H1. Năm 2018 được cấp cho ông Nguyễn Hoàng H2, năm 2019 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn K và bà Phan Thị Kim Y1”. Tại Công văn số 1040/TNMT ngày 11 tháng 5 năm 2022 của Phòng T - thành phố T xác định: Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận năm 2005 cho ông Trần Tấn H3, bà Ngô Thị T1 là người chuyển quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Ngọc H1 thể hiện phía Đông Nam thửa đất tức giáp ranh phần đất của nguyên đơn - Trần Điền Huyền T thể hiện lối đi chung ra đường Đ đúng với vị trí lối đi chung được ông, bà Trần Tấn H3 - Ngô Thị T1 thể hiện trong kê khai 3376 năm 1999 và được bà Huỳnh Ngọc H1 ký giáp ranh. Đối với nhà, đất số E đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T, ngày 12/11/2001, Ủy ban nhân dân quận T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 101666 cho Huỳnh Ngọc H1, công nhận diện tích đất lúa 451 m², thuộc thửa 2018, tờ 3 theo tài liệu đo năm 1995. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, phía Đông Bắc khu đất thể hiện đường trải đá ra đường Đ (góc phía Đông Nam của thửa 550, tờ bản đồ theo tài liệu năm 2005 do bà Trần Điền Huyền T sử dụng). Lối đi này không đúng với vị trí lối đi chung được ông, bà Trần Tấn H3 - Ngô Thị T1 thể hiện kê khai 3367 năm 1999 và được bà Huỳnh Ngọc H1 ký giáp ranh. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận CE 121465 ngày 13/01/2017 không thể hiện lối đi vào thửa số 550 (thửa cũ 401), tờ bản đồ số 63 theo tài liệu năm 2005) thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn. Tại Công văn số 1040/TNMT ngày 11/5/2022 của Phòng T, Thành phố T và Công văn số 12472/CNTPTĐ ngày 10/7/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai, Thành phố Hồ Chí Minh - chi nhánh T4 xác định “Ngày 23 tháng 7 năm 2020, Chi nhánh Văn phòng đất đai quận Đ cập nhật hạn chế trên trang 4 giấy chứng nhận số CE 121465 với nội dung “Người sử dụng thửa đất số 602, tờ bản đồ số 63, tài liệu bản đồ năm 2005 được sử dụng lối đi trên thửa đất số 592, tờ bản đồ số 63, tài liệu bản đồ năm 2005 theo Giấy cam kết của ông Nguyễn Hoàng H2 được UBND phường T chứng thực chữ ký ngày 07 tháng 7 năm 2020”, với phần lối đi chung xi măng rộng 2,6 m được thể hiện trên bản vẽ sơ đồ nhà đất số 1486 ĐC/TP-2019 ngày 09 tháng 12 năm 2019 do Công ty TNHH Đ1 lập. Do vậy, lối đi chung do nguyên đơn tranh chấp đã tồn tại từ lâu và đã được các chủ sử dụng trước đây có ký cam kết xác nhận và cũng đã được cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thẩm quyền ghi nhận. Tuy nhiên, sau này Sở T cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại không xem xét toàn diện hiện trạng quá trình sử dụng đất và các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp để công nhận cho chủ sử dụng có quyền sử dụng riêng đối với phần đất thuộc lối đi chung là không đúng quy định của pháp luật và ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cũng như những người có quyền sử dụng đất lân cận liên quan trực tiếp đến phần đất thuộc lối đi chung này.
Theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 10/5/2024 của Trung tâm Đo đạc Bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, Hội đồng xét xử xác định lối đi chung với diện tích là 67 m² có địa chỉ: số E đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện tại tại Bảng Thống kê phân loại diện tích số thứ tự 1,2,3, 4; Bảng chỉ dẫn diện tích (Theo tài liệu năm 2005) thửa cũ 592, thửa phân chiết 592-1; Bảng chỉ dẫn diện tích ( Theo tài liệu năm 1998) thửa cũ 400, Thửa phân chiết 400-2 và Bảng chỉ dẫn diện tích ( Theo tài liệu 299/Ttg) thửa cũ 844, thửa phân chiết 844-1.
[4.1.3] Qua phân tích nêu trên cho thấy về thực tế hiện trạng nhà đất của nguyên đơn tại số F đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T không có con đường nào ra đường công cộng. Về pháp lý, trên Giấy chứng nhận cấp cho nguyên đơn - Trần Điền Huyền T đã thể hiện có lối đi chung ra đường số 4 và điều này cũng phù hợp với giấy chứng nhận cấp cho người có quyền sử dụng trước là ông bà Trần Tấn H3, Ngô Thị T1 thể hiện vị trí lối đi chung được ông, bà Trần Tấn H3 - Ngô Thị T1 thể hiện kê khai 3367 năm 1999 được bà Huỳnh Ngọc H1 ký giáp ranh và theo Giấy cam kết của ông Nguyễn Hoàng H2 được UBND phường T chứng thực chữ ký ngày 07 tháng 7 năm 2020. Tuy nhiên, hiện nay phần lối đi chung này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Trần Điền Huyền T xác định lối đi chung theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 10/5/2024 của Trung tâm Đo đạc Bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, Hội đồng xét xử xác định lối đi chung với diện tích là 67 m² có địa chỉ: số E đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện tại Bảng Thống kê phân loại diện tích số thứ tự 1,2,3, 4; Bảng chỉ dẫn diện tích (Theo tài liệu năm 2005) thửa cũ 592, thửa phân chiết 592-1; Bảng chỉ dẫn diện tích (Theo tài liệu năm 1998) thửa cũ 400, Thửa phân chiết 400-2 và Bảng chỉ dẫn diện tích (Theo tài liệu 299/Ttg) thửa cũ 844, thửa phân chiết 844-1 và hủy một phần một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CE 121465, sổ vào số cấp GCN: CS 03938 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 13/01/2017, cập nhật biến động mới nhất ngày 23/7/2020, cập nhật chủ sử dụng mới nhất ngày 28/9/2020 đứng tên ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y đối với phần diện tích lối đi chung đối với diện tích đất 67 m² nêu trên.
[4.1.4] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị thu thập chứng cứ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Về chứng cứ việc cấp giấy chứng nhận liên quan đến phần đất tranh chấp, xét thấy đã thể hiện đầy đủ tại lời trình bày của nguyên đơn, Biên bản làm việc ngày 24/3/2022 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thông báo số 1040/TNMT ngày 11/5/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường Thành phố T và Công văn số 12472 ngày 10/7/2023 của Văn phòng Đ - Chi nhánh thành phố T4 là phù hợp với các chứng cứ khác như quá trình sử dụng, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu ở và quyền sử dụng đất ở của nguyên đơn và bị đơn nên có đủ căn cứ giải quyết với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát yêu cầu tiếp tục thu thập chứng cứ về quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến phần đất tranh chấp là không cần thiết.
[4.1.5] Về chi phí tố tụng:
Hội đồng xét xử, ghi nhận sự tự nguyện của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, tự nguyện chuyện toàn bộ chi phí tố tụng.
[4.1.6] Về việc khiếu nại, tranh chấp liên quan đến các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng liên quan đến phần đất tranh chấp:
Xét thấy, do ông bà Huỳnh Ngọc H1, ông Nguyễn Hoàng H2 là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ông bà Nguyễn Văn K, Phạm Thị Kim Y vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không trình bày ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không thể hiện có tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở và quyền sử dụng đất liên quan đến diện tích đất xác định lối đi chung. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này và xác định nếu sau này các bên có tranh chấp các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan đến phần đất mà bản án này xác định lối đi chung thì có quyền yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
[4.1.7] Về tài sản thế chấp liên quan đến phần đất tranh chấp
Căn cứ Công văn số 220861.24 ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Ngân hàng TMCP Q1 (V), xác định ngày 17/11/2020, V đã cấp tín dụng cho bà Phạm Thị Kim Y và ông Nguyễn Văn K theo Hợp đồng tín dụng số 9620638.20 và Hợp đồng tín dụng số 8834162.20. Trong các tài sản đảm bảo vay có Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số: 592, tờ bản đồ số 63, địa chỉ: Phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CE 121465, sổ vào số cấp GCN: CS 03938 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 13/01/2017, cập nhật biến động mới nhất ngày 23/7/2020, cập nhật chủ sử dụng mới nhất ngày 28/9/2020 đứng tên ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y.
Ngày 08/01/2024, bà Phạm Thị Kim Y và ông Nguyễn Văn K đã hoàn tất thủ tục tất toán các Hợp đồng tín dụng số 9629638.20 ngày 17/11/2020 và Hợp đồng tín dụng số 8834162.20 ngày 17/11/2020 đồng thời giải chấp toàn bộ các tài sản đảm bảo nêu trên. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không phải đưa Ngân hàng TMCP Q1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn nên hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí 300.0000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/ 0003538 ngày 23/11/2022 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị đơn - ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 34, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 30 và khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Điều 202, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013 ;
Căn cứ Điều 88 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ.
Căn cứ vào Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự,
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Điền Huyền T;
- Công nhận bà Trần Điền Huyền T có quyền sử dụng hợp pháp lối đi chung phần đất có diện tích là 67 m² có địa chỉ: số E đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 10/5/2024 của Trung tâm Đo đạc Bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, thể hiện tại Bảng Thống kê phân loại diện tích số thứ tự 1, 2, 3, 4; Bảng chỉ dẫn diện tích (Theo tài liệu năm 2005) thửa cũ 592, thửa phân chiết 592-1; Bảng chỉ dẫn diện tích (Theo tài liệu năm 1998) thửa cũ 400, Thửa phân chiết 400-2 và tại Bảng chỉ dẫn diện tích (Theo tài liệu 299/Ttg) thửa cũ 844, thửa phân chiết 844-1.
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CE 121465, sổ vào số cấp GCN: CS 03938 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 13/01/2017, cập nhật biến động mới nhất ngày 23/7/2020, cập nhật chủ sử dụng mới nhất ngày 28/9/2020 đứng tên ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y đối với phần diện tích lối đi chung theo Theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 10/5/2024 của Trung tâm Đo đạc Bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, với diện tích là 67m² có địa chỉ: số E đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện tại Bảng Thống kê phân loại diện tích số thứ tự 1, 2, 3, 4, B chỉ dẫn diện tích (Theo tài liệu năm 2005) thửa cũ 592, thửa phân chiết 592-1; Bảng chỉ dẫn diện tích (Theo tài liệu năm 1998) thửa cũ 400, Thửa phân chiết 400-2 và tại Bảng chỉ dẫn diện tích (Theo tài liệu 299/Ttg) thửa cũ 844, thửa phân chiết 844-1.
- Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y phải dỡ bỏ tường rào gạch bê tông và các công trình kiến trúc khác đã xây dựng trên phần đất lối đi chung 67 m² có địa chỉ: số E đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 10/5/2024 của Trung tâm Đo đạc Bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, thể hiện tại Bảng Thống kê phân loại diện tích số thứ tự 1, 2, 3, 4, B chỉ dẫn diện tích (Theo tài liệu năm 2005) thửa cũ 592, thửa phân chiết 592-1; Bảng chỉ dẫn diện tích (Theo tài liệu năm 1998) thửa cũ 400, Thửa phân chiết 400-2; thể hiện tại Bảng chỉ dẫn diện tích (Theo tài liệu 299/Ttg) thửa cũ 844, thửa phân chiết 844-1 để cho gia đình bà Trần Điền Huyền T được quyền sử dụng lối đi chung từ nhà đất số F đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tới đất công cộng là con hẻm E đi ra đường số D, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Các bị đơn - ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Kim Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
- Hoàn trả cho bà Trần Điền Huyền T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.0000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/ 0003538 ngày 23/11/2022 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Vân |
Quyết định số 296/2024/DSST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số quyết định: 296/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TC quyền sử dụng đất
