Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 246/2024/HS-ST

Ngày: 31-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Phòng
  2. Ông Mai Thanh Giàu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 246/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Mai Thùy T, sinh ngày: 14/8/1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số I Đường số D, Tổ C, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số I Đường số D, Tổ C, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: không; con ông Mai Thanh K, sinh năm: 1956 (đã chết) và bà Trương Thị T1, sinh năm: 1954; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con út; chồng bị cáo tên Lê Phu Hà Thiên V, sinh năm: 1987; có 06 người con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh ngày 20/11/2022; Tiền án: Ngày 19/5/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 210/2021/HS-ST ngày 19/5/2021. Đang hoãn chấp hành án do nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/8/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị T1, địa chỉ: Số I Đường số D, Tổ C, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Thùy T là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định và có tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng đang được hoãn thi hành án do nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Do không có tiền tiêu xài và ma túy để sử dụng nên vào khoảng tháng 6/2023, T thông qua bạn nghiện nên biết được người đàn ông tên T2 (không rõ nhân thân) trú tại phường L có bán ma túy nên đã đến đây nhiều lần mua ma túy để sử dụng và bán lại cho người nghiện khác kiếm lời. Ngày 26/8/2023, Nguyễn Đức P (sinh năm 1995, trú tại số B, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương) là bạn nghiện liên hệ T qua số điện thoại 0927.762.xxx đặt mua 400.000 đồng ma túy đá thì T đồng ý bán và giao ma túy cho P tại địa chỉ số B đường T, khu phố B, phường T, thành phố T. Số ma túy này do T mua sử dụng trước đó còn dư lại. Ngày 27/8/2023, T tiếp tục liên hệ với T2 mua gói ma túy đá với giá 1.500.000 đồng đem về nhà cất giấu. Khoảng 9 giờ ngày 29/8/2023, người tên T3 (không rõ nhân thân) liên lạc với T hỏi mua gói ma túy với giá 800.000 đồng và P cũng hỏi mua gói ma túy với giá 400.000 đồng thì T đều đồng ý bán. T lấy gói ma túy mua trước đó chiết ra 02 gói ma túy khác, gói ma túy bán cho T3 thì T dán băng keo trong tấm thẻ card visit gấp đôi lại còn gói ma túy còn lại thì giao cho P. Sau đó T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 59N3-357.67 của bà Trương Thị T1 (mẹ ruột của T) đến địa chỉ số B đường T, khu phố B, phường T, thành phố T đợi giao ma túy cho T3 thì bị Công an phường T, thành phố T phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng với tang vật có liên quan.

Tại Bản kết luận giám định số: 9534/KL-KTHS, ngày 06/9/2023 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận:

Gói 01: Tinh thể không màu được ký hiệu m1 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9392 gam, loại Methamphetamine.

Gói 02: Tinh thể không màu được ký hiệu m2 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2013 gam, loại Methamphetamine. (bút lục 28).

3

Vật chứng vụ án: 02 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 9534 (1925/23) có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân S bên trong có 01 thẻ card visit có chữ ghi “Dịch vụ du lịch Trung Hiếu”, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 59N3-357.67.

Cáo trạng số 246/CT-VKSTPTĐ ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Mai Thùy T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Mai Thùy T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù; tổng hợp hình phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù quy định tại Bản án số 210/2021/HS-ST ngày 19/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Buộc bị cáo Mai Thùy T phải chấp hành một hình phạt tù chung của cả 02 Bản án là 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2023, được trừ đi thời gian tạm giữ (từ ngày 12/12/2020 đến ngày 18/12/2020). Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 9534 (1925/23) có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân S bên trong có 01 thẻ card visit có chữ ghi “Dịch vụ du lịch Trung Hiếu” và 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 9534 (1925/23) có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân S bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo; Trả lại cho bà Trương Thị T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 59N3-357.67 do bà T1 không biết việc T mượn xe sử dụng vào việc phạm tội.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

4

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Mai Thùy T tại phiên tòa phù hợp với nội dung: Biên bản Bắt người phạm tội quả tang lập ngày 29/8/2023 của Công an phường T, thành phố T; Kết luận giám định số 9534/KL-KTHS ngày 06/9/2023 của Phòng K1 - Công an Thành phố H và lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào các ngày 26/8/2023 và 29/8/2023, tại phòng trọ của Mai Thùy T địa chỉ: tại địa chỉ số B đường T, khu phố B, phường T, thành phố T, Mai Thùy T đã 02 lần bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine cho Nguyễn Đức P và 01 lần bán cho người đàn ông tên T3. Hành vi trên của Mai Thùy T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội đối với bị cáo. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Mai Thùy T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;

[4] Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Mai Thùy T là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác, ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, không chỉ gây tổn hại đến sức khoẻ và tinh thần của người sử dụng mà còn làm phá sản về kinh tế của gia đình người nghiện và là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo là người có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đang được hoãn chấp hành án do nuôi con dưới 36 tháng tuổi nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học sửa sai mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, cần áp

5

dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cũng xét trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thể hiện sự ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Đối với đối tượng tên Nguyễn Đức P mua ma túy của T để sử dụng, Cơ quan điều tra - Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với P về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng tên T2 (không rõ lai lịch) bán ma túy cho bị cáoTrâm và người tên T3 (không rõ lai lịch) mua ma túy của bị can T, Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục điều tra xác minh, có căn cứ sẽ xử lý sau.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

  • - 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 9534 (1925/23) có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân S bên trong có 01 thẻ card visit có chữ ghi “Dịch vụ du lịch Trung Hiếu” và 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 9534 (1925/23) có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân S bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng. Đây là chất ma tuý mà Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu, tiêu hủy;
  • - 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước;
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 59N3-357.67. Qua xác minh, chủ sở hữu đứng tên đăng ký xe là ông Phan Văn Đ, ông Đ đã bán xe từ tháng 5/2023, ông Đ không có yêu cầu gì trong vụ án này do xe đã bán. Bà Trương Thị T1, địa chỉ: Số 1 Đường số D, Tổ C, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là người đang trực tiếp quản lý xe và giữ giấy đăng ký xe, nguồn gốc bà T1 mua ở cửa hàng xe cũ nhưng không làm thủ tục sang tên, bà T1 không biết việc T mượn xe của bà sử dụng vào việc phạm tội. Bà T1 yêu cầu

6

được nhận lại xe trên. Từ những nhận định trên, việc bà T1 yêu cầu được nhận lại xe là có cơ sở nên Hội đồng xét xử trả lại xe cho bà T1.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 189/QĐ-VKS ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án thành phố Thủ Đức).

[6] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Mai Thùy T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
    • - Xử phạt bị cáo Mai Thùy T 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
    • Tổng hợp hình phạt đã tuyên với hình phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù quy định tại Bản án số 210/2021/HS-ST ngày 19/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Buộc bị cáo Mai Thùy T phải chấp hành một hình phạt tù chung của cả 02 Bản án là 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2023, được trừ đi thời gian tạm giữ (từ ngày 12/12/2020 đến ngày 18/12/2020).
  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 9534 (1925/23) có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân S bên trong có 01 thẻ card visit có chữ ghi “Dịch vụ du lịch Trung Hiếu” và 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 9534 (1925/23) có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân S;
    • - Tịch thu tiêu, nộp ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo.
    • - Trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda biển số 59N3-357.67 cho bà Trương Thị T1.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 189/QĐ-VKS ngày 07/5/2024 của

7

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức Phiếu nhập kho ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án thành phố Thủ Đức).

  1. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Mai Thùy T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  2. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:

    Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND TP.HCM;
  • - VKSND TP HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 246/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số quyết định: 246/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt 09 năm tù. Tổng hợp hình phạt của bản án trước 4 năm 6 tháng tù, tổng cộng: 13 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger