Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 243/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03-12-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Gái

và anh Dũng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Kim Cúc

Ông Triệu Văn Giản

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hải Anh – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - N sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý 193/2025/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị G, sinh năm 1978; Nơi đăng ký thường trú: số G B, phường T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: số A đường N, phường T, tỉnh Ninh Bình. Số căn cước công dân [...]. Vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Ngọc D, sinh năm 1979; Nơi đăng ký thường trú: số G B, phường T, tỉnh Ninh Bình. Số căn cước công dân [...]. Vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Tại đơn khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình đề ngày 10-10-2025; biên bản lấy lời khai ngày 24-10-2025 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn là chị Đoàn Thị G trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Ngọc D, sinh năm 1979; Nơi đăng ký thường trú: số G B, phường T, tỉnh Ninh Bình tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào năm 2007 tại UBND phường L, thành phố N (nay là UBND phường T, tỉnh Ninh Bình). Sau khi tổ chức lễ cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm lối sống nên đã nảy sinh nhiều xung đột cãi vã và không thể hoà giải. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên từ năm 2012 vợ chồng đã sống ly thân, chị G và con trai phải thuê nhà trọ để ở. Trong thời gian ly thân vợ chồng không quan tâm, chăm sóc đến nhau. Nay chị G xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị G có nguyện vọng xin được ly hôn với anh D.

Về con chung: Chị Đoàn Thị G trình bày vợ chồng có 01 con chung là Trần Ngọc D1, sinh ngày 23-12-2008, giới tính nam. Hiện tại cháu D1 đang ở với chị G. Về việc nuôi con: Chị Gái có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Ngọc D1. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Gái xác nhận vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Gái xác định vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do công việc không thể tham gia phiên tòa nên ngày 24-11-2025 chị Đoàn Thị G đã có đơn đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt,

2. Bị đơn là anh Trần Ngọc D đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh D không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng không tham gia phiên tòa nên anh D không có quan điểm để giải quyết vụ án. Tuy nhiên, ngày 25 tháng 11 năm 2025 anh D có đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.

3. Tại biên bản thu thập tài liệu, chứng cứ ngày 27-10-2025 tại Tổ dân phố số E P, phường T, tỉnh Ninh Bình xác nhận: Quá trình chung sống của chị G và anh D có mâu thuẫn cụ thể thế nào địa phương không nắm được tuy nhiên chị G hiện không còn chung sống với anh D kể từ năm 2019. Về con chung: Vợ chồng chị G và anh D có 01 con chung là Trần Ngọc D1, sinh ngày 23-12-2008, giới tính namHiện tại cháu D đang ở cùng với chị G.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá: Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự như sau: Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, quá trình giải quyết vụ án đã không cung cấp bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ không có lý do đồng thời có đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt. Về việc giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị G và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị G và anh D. Về con chung: Vợ chồng chị G và anh D có 01 con chung là Trần Ngọc D1, sinh ngày 23-12-2008, giới tính nam Hiện tại con chung đang ở cùng với chị G nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu chị G, giao con Trần Ngọc D1 cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: chị G không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: chị G không đề nghị giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí:chị G phải nộp theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Đoàn Thị G và bị đơn là anh Trần Ngọc D có đơn đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228. Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị G và anh Trần Ngọc D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố N (nay là UBND phường T, tỉnh Ninh Bình) ngày 12-10-2007 nên hôn nhân giữa chị G và anh D là hôn nhân hợp pháp. Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo chị G trình bày thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2012 cho đến nay và không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Nay chị G xác định tình cảm vợ chồng không còn và có nguyện vọng được ly hôn với anh D. Đối với anh D, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để viết bản tự khai và không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Sau khi nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử anh D đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt thể hiện việc anh D không có thiện chí hòa giải, giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị G và anh D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị G và anh D theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3] Về việc nuôi con: Chị Gái có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Trần Ngọc D1, sinh ngày 23-12-2008, giới tính namsau khi vợ chồng ly hôn. Xét thấy, cháu Trần Ngọc D1 hiện đang sinh sống ổn định cùng chị G còn anh D không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như tại phiên tòa để trình bày về việc nuôi con cũng như về cấp dưỡng nuôi con. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung và theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình Hội đồng xét xử giao con Trần Ngọc D1, sinh ngày 23-12-2008, giới tính namchị Đoàn Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chấp nhận sự tự nguyện của chị G không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Gái không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Thị G là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đoàn Thị G và anh Trần Ngọc D.

2. Về nuôi con chung: Giao con Trần Ngọc D1, sinh ngày 23-12-2008, giới tính namcho chị Đoàn Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị G không yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.

Người không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Thị G phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Đoàn Thị G đã nộp tại Biên lai số 0001754 ngày 15-10-2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Đoàn Thị G và anh Trần Ngọc D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình
  • - VKSND khu vực 7 - Ninh Bình;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND phường Thiên Trường, tỉnh Ninh Bình
  • - Các đương sự;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Kim Huế

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Kim Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 243/2025/HNGĐ-ST ngày 03/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số quyết định: 243/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án hôn nhân và gia đình giữa chị Đoàn Thị Gái và anh Trần Ngọc Dũng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger