|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Quyết định giám đốc thẩm Số: 241/2024/DS-GĐT Ngày 22/8/2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Khoa
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Cường
Ông Phan Thanh Tùng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Duẩn, Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Minh Đ, (chết ngày 18/6/2013);
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Lê Minh Đ:
- Bà Nguyễn Thị T;
- Ông Lê Minh T1;
- Ông Lê Minh T2;
- Ông Lê Minh H;
- Bà Lê Thị Minh T3;
- Bà Lê Thị Minh G;
Cùng địa chỉ: 1 đường N, khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà T, ông T1, ông T2, ông H, bà T3, bà G: Ông Đặng Chí H1, sinh năm 1981, địa chỉ: số D đường số A (số cũ), phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 28/5/2016).
- Bị đơn:
- Bà Lê Thị M, sinh năm 1943; Thường trú: 392/4 H, tổ A, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: 345 Nguyễn Thị R, tổ B, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Lê Thị S, sinh năm 1947; Địa chỉ: 3 H, tổ A, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện hợp pháp của bà M, bà S: Bà Võ Thị H2, sinh năm: 1963; địa chỉ: C N, tổ B, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, (là người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 20/11/2018).
- Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị S: Bà Nguyễn Thị Anh N, sinh năm 1947; địa chỉ: A đường T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, (là người đại diện theo ủy quyền).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà M: Ông Nguyễn Văn N1, Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn N1, Đoàn Luật sư Thành phố H.
- Bà Lê Thị M1, (đã chết);
- Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà M1: Bà Hồ Thị R1, sinh năm: 1992; địa chỉ: A đường E, tổ I, ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện hợp pháp của bà Hồ Thị R1: Bà Nguyễn Thị Anh N, sinh năm 1947; địa chỉ: A đường T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, (là người đại diện theo ủy quyền).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Thanh T4, chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 29/8/2017).
- Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn S1;
- Ông Huỳnh Công Q;
- Bà Cao Thị N2;
- Ông Cao Văn A;
- Ông Trần Văn B;
- Ông Huỳnh V;
- Bà Lê Thị R2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Minh Đ trình bày:
Ông Đ có làm chủ quyền sử dụng đất tại xã T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ Q463505 vào sổ cấp giấy số: 1622/QSDĐ/GCN, ngày 06/03/2000 của UBND huyện C.
Trước đây, ông Đ cho chú ruột ông là ông Lê Văn B1 trồng cây bạch đàn trên 554 m² đất của ông; với cam kết miệng: khi cây lớn thu hoạch xong một lứa sẽ trả đất lại cho ông. Vì là chỗ chú cháu nên việc cho mượn đất không làm giấy tờ. Nhưng sau đó, chưa kịp thu hoạch cây bạch đàn thì chú B1 chết. Hiện nay, khi cây đã thu hoạch được, ông Đ yêu câu các con của chú Ba chặt cây trả lại đất cho ông, thì bà Lê Thị M (con ruột Lê Văn B1) không chặt cây và có ý không trả đât cho ông.
Nay, ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả lại 554 m² đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 463505 vào sổ cấp 1622QSDĐ/GCN, ngày 06/03/2000 của UBND huyện C. Ông Đ tự định giá 554 m² đất bị chiếm dụng có giá trị 100.000.000 đồng.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn ông Lê Minh Đ trình bày:
Nguyên trước đây ông Lê Minh Đ có yêu cầu Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi xem xét giải quyết buộc bà Lê Thị M thường trú 392/4, Tỉnh lộ 2, tổ A, ấp G, xã T, huyện C lại phần đất mà cha bà là ông Lê Văn B1 đã mượn trồng cây bạch đàn trước đây (vụ án hiện Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi đang thụ lý và giải quyết) nhưng chưa yêu cầu chặt cây bạch đàn mà ông Lê Văn B1 đã trồng trước đây. Nay nguyên đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung như sau:
Buộc những người thừa kế của ông Lê Văn B1 là bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị S phải chặt cây và bứng gốc để trả lại đất cho nguyên đơn các thửa đất số 212 có diện tích khoảng 554 m² và một phần thửa đất 191 có diện tích khoảng 180 m². Hai thửa đất trên thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q463505 số vào sổ cấp giấy chứng nhận là 1622/QSDĐ/GCN, ngày 06/03/2000 của UBND huyện C cấp cho ông Lê Minh Đ. Phần cây phải chặt và bứng gốc trên hai thửa đất nói trên để trả lại cho nguyên đơn là khoảng 40 cây bạch đàn (gồm khoảng 30 cây lớn và 10 cây nhỏ) có giá trị khoảng 20.000.000 đồng.
- Người đại diện theo ủy quyền của những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Lê Minh Đ, ông Đặng Chí H1 trình bày: Ông xác định lại phần đất tranh chấp ở thửa 212 có diện tích là 549,5 m² chứ không phải 554 m²;
Phần đất thuộc một phần thửa 191 (thửa 191-1) có diện tích 221,1 m² chứ không phải là 180 m². Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông
Đ yêu cầu Tòa án buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Lê Văn B1 trả lại cho phía nguyên đơn phần đất diện tích 549,5 m² thuộc thửa 212 và phần đất diện tích 221,1 m² thuộc thửa 191 tờ bản đồ số 6 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/3/2000 do UBND huyện C cấp cho ông Lê Minh Đ. Yêu cầu phía bị đơn trả lại hiện trạng đất trống.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị M trình bày:
Nguyên ông nội bà M là ông Lê Văn S2 có hai người con trai:
+ Ông Lê Văn H3 là cha của Lê Thị R2 và Lê Minh Đ.
+ Ông Lê Văn B1 là cha của tôi và Lê Thị M1, Lê Thị S.
Cha ông Lê Minh Đ và Lê Thị R2 chết sớm, mẹ về xứ có chồng khác. Cha mẹ bà M đã cưu mang, nuôi nấng, cưới vợ gã chồng cho chị em ông Lê Minh Đ.
Ông nội Lê Văn S2 có để lại hơn 1 mẫu đất, cha bà M đã chia số đất này ra làm 04 phần (chia miệng). Chị em ông Lê Minh Đ hưởng 03 phần (chia bằng miệng), chị em bà M hưởng 01 phần (sau đó cha bà M cho ông T5 mướn).
Ông Đ có vợ về G sinh sống để đất cho chị Lê Thị R2 canh tác. Vợ chồng Lê Thị R2 than con đói khổ, cha bà M cầm lòng không được nên yêu cầu ông T5 trả lại đất để cho vợ chồng Lê Thị R2 canh tác có điều kiện nuôi con khôn lớn.
Còn phần đất đồng nằm dọc cái đìa cha con bà M thấy bỏ hoang uổng phí nên đã trồng tràm từ năm 1977-1978.
Năm 2000 ông Đ đã âm thầm từ G về làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chiếm toàn bộ 554 m² đất trồng tràm của bà M, nhưng bà M không hay biết. Đến 2005 bà M đổ đất đấp lại cái đìa thì công an cản trở và nói là đất đang tranh chấp. Sau đó ông Đ làm đơn kiện bà M ra tòa buộc bà M trả 554 m² đất. Việc đòi 554 m² đất mà cha con bà M đang quản lý, sử dụng trồng tràm là hoàn toàn trái pháp luật, bởi lẽ:
+ Toàn bộ đất ông nội để lại chị em Lê Thị R2 và Lê Minh Đ đã chiếm dụng hết.
+ Phần 554 m² đất trồng tràm cha con bà M đã đổ mồ hôi công sức hoang hóa từ năm 1977-1978. Trong khi Lê Minh Đ chưa một lần đặt chân, đặt cuốc xuống mảnh đất này.
Việc Lê Minh Đ có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 463505 ngày 06/03/2000 do UBND huyện C cấp là việc làm trái pháp luật, vì khi cấp sổ đỏ chính quyền địa phương thiếu khảo sát thực tế, xác minh nguồn gốc đất.
Ngày 15/7/2014, bà M có đơn yêu cầu phản tố với nội dung: Đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 554 m² thuộc thửa 212, tờ bản đồ số 6 đã cấp sai trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622, do
Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 06/3/2000 cho ông Lê Minh Đ. Vì phần đất này là của bà M được cha mẹ để lại và sử dụng ổn định từ ngày giải phóng cho đến nay, sau này chuyển lại cho bà M tiếp tục canh tác, sử dụng. Bản thân ông Đ không hề canh tác, sử dụng lúc nào hết.
Ngày 03/9/2019, đại diện theo ủy quyền của bà M và bà S, bà H2 trình bày:
Nguyên ông Lê Minh Đ, sinh năm 1945 (đã chết), khởi kiện bà Lê Thị M để đòi mảnh đất diện tích 554 m², đây vốn là nơi bà M đang sinh sống, canh tác trên mảnh đất có diện tích 554 m². Qua tìm hiểu thì được biết ông Đ đã tùy ý đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đồng ý phê duyệt và cơ quan địa chính đã đồng ý thông qua, trong phần kê khai có mảnh đất nói trên của bà Lê Thị M. Tuy nhiên, việc Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thông qua cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 60/03/2000 do ông Hoài Công A1 ký là hoàn toàn trái pháp luật, vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật về đất đai, cụ thể như sau:
Ông Lê Minh Đ đã đi khỏi địa phương trước năm 1954, không trực tiếp canh tác, trực cư trên phần đất này từ năm 1959, và cũng không sinh sống tại ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, chưa từng đóng thuế đất nông nghiệp cho mảnh đất nói trên, theo khoản 1, Điều 2 Luật đất đai 1993, Điều 3 Nghị định 04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 quy định về đối tượng quyền sử dụng đất là tổ chức cá nhân đang sử dụng đất ông Lê Minh Đ không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ cũng có những sai phạm:
+ Ngày 25/07/1998, ông Lê Minh Đ làm đơn gửi Ủy ban nhân dân xã T xin đăng ký quyền sử dụng đất.
+ Ngày 20/12/1999, Ủy ban nhân dân xã T đồng ý phê duyệt và cơ quan địa chính cũng không có ý kiến, đồng ý thông qua ngày 29/03/2000.
+ Ngày 20/03/2000 ông Lê Minh Đ được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/03/2000.
Như vậy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Minh Đ có trước khi có ý kiến cơ quan địa chính, tức đã vi phạm nghiêm trọng về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của bà M:
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN được cấp ngày 06/03/2000 của Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Lê Minh Đ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bị đơn ông Lê Văn B1 là bà Lê Thị M1 đã chết vào ngày 18/01/2017, chồng bà M1 là ông Hồ Văn T6 chết vào năm 1975, bà M1 và ông T6 có một người con là bà Hồ Thị N3. Ngày 07/02/2019, bà N3 chết, bà N3 có một người con tên là Hồ Thị R1, không có chồng. Bà R1 trình bày:
Mẹ bà tên Hồ Thị N3, sinh năm 1972 là người bị kiện theo đơn của ông Lê Minh Đ. Nay mẹ bà đã chết, bà là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của mẹ bà. Mẹ bà có chồng là ông Lê Quốc Đ1, sinh năm 1976 và bà là Hồ Thị R1. Nay bà tiếp tục ủy quyền cho cô Võ Thị H2 tiếp tục giải quyết vụ án, mọi ý kiến của cô H2 là ý kiến của bà.
- Những người làm chứng trình bày:
Ông Nguyễn Văn S1: Theo ông biết nguồn gốc đất tọa lạc tại xứ đông ấp L, trước và sau khi Miền N4 hoàn toàn giải phóng thấy ông Lê Văn B1 là người trực tiếp canh tác trên mảnh đất này. Ông là người dân sinh ra và lớn lên tại đó, nên biết đất đó do ông Lê Văn B1 canh tác. Hiện nay ông Lê Văn B1 đã mất do già yếu.
Ông Huỳnh Công Q: Từ ngày 30/04/1975 đến năm 1983 ông làm công tác thu thuế nông nghiệp. Hộ Lê Thị M1 trực tiếp canh tác diện tích trên tờ bản đồ số 06, thửa 191, diện tích 1.188 m²; tờ bản đồ số 06, thửa 212, diện tích 554 m² và đóng thuế đầy đủ hàng năm.
Bà Cao Thị N2: Bà biết rõ nguồn gốc đất tọa lạc tại số D, bản đồ số 05, xã T, huyện C, ông B1 là người canh tác, làm ruộng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ cho đến miền nam giải phóng. Bà biết ông B1 là người trực tiếp canh tác, trực cư trên mảnh đất này. Bà có làm ruộng gần ông B1 và biết rõ nên đồng ý ra làm chứng.
Ông Cao Văn A: Ông làm ruộng giáp ranh với ruộng của ông Lê Văn B1. Theo ông hiểu biết phần đất kế đường Tỉnh lộ 2 là rừng dứa, không có canh tác được, thì từ đó ông Lê Văn B1 khai phá và sau này ông B1 cào lấp liền trồng củ mì, trồng đậu đũa khoảng 03 (ba) năm sau ông B1 trồng cây tràm. Ông hiểu biết bấy nhiễu thì ông khai báo bấy nhiêu, chứ còn phần tranh chấp ông không biết.
Ông Trần Văn B: Xác nhận biết kỹ rõ nguồn gốc đất của ông Lê Văn B1 tọa lạc thửa đất số 212, tờ bản đồ số 06, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, là đất của bà Lê Thị M1 đây là thửa đất số 44, tờ bản đồ số 05, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Thửa đất này do bà Lê Thị M1, ông Lê Văn B2 và bà Nguyễn Thị Đ2 năm 1959 theo giấy bào ruộng ngày 27/02/1959, vậy thửa đất Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Lê Minh Đ năm 2000 theo giấy số 1622 QSDĐ/GCN. Ông tên là Trần Văn B là người lớn tuổi tại ấp L, biết rõ ông Lê Văn B1 người được canh tác và trực canh, trực cư, làm đất giữ vườn suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, cho đến khi miền N giải phóng ông vẫn khai thác trồng lúa màu trên phần đất trên.
Ông Huỳnh Văn H4: Theo ông được biết nguồn gốc dãy ruộng thuộc địa phận ấp L nằm gối đầu hương lộ B (nay là Tỉnh lộ 2) sau giải phóng năm 1975 ông có thấy ông Lê Văn B1 là người canh tác trên thửa ruộng đó là đúng sự thật. Nhưng hiện nay ông Lê Văn B1 đã mất (chết) do già yếu bệnh.
Tại Bản án sơ thẩm số 269/2021/DSST ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử:
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Lê Minh Đ; Không chấp nhận yêu cầu phản tổ của bị đơn bà Lê Thị M.
- Buộc bà Lê Thị M, bà Lê Thị S và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị M1 là bà Hồ Thị R1 trả lại cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Lê Minh Đ phần đất diện tích 549,5 m thuộc thửa 212 và phần đất diện tích 221 m thuộc thửa 191-1 tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại xã T thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/3/2000 do UBND huyện C cấp cho ông Lê Minh Đ theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH T7 vẽ ngày 08/9/2015; Giao trả hiện trạng đất trống.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị M về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/3/2000 do UBND huyện C cấp cho ông Lê Minh Đ.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị M về việc buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Lê Minh Đ trả lại phần đất diện tích 554 m thuộc thửa 212, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại xã T, huyện C.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 10 tháng 11 năm 2021, bà Võ Thị H2 đại diện bị đơn bà Lê Thị M kháng cáo với nội dung: Thửa đất diện tích 554 m² thuộc thửa 212, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại xã T, huyện C do bà M sử dụng, sinh sống và canh tác từ trước tới nay nhưng Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/3/2000 cho ông Lê Minh Đ là hoàn toàn trái quy định của pháp luật, vi phạm quy định của luật đất đai do ông Đ đã đi khỏi địa phương từ năm 1954, không trực tiếp canh tác, không sinh sống tại ấp L, xã T, huyện C; ông Đ chưa từng đóng thuế đất nông nghiệp cho thửa đất trên; quá trình cấp giấy chứng nhận sai phạm ở chỗ ngày 29/6/2000 cơ quan địa chính mới đồng ý thông qua nhưng ngày 20/3/2000 ông Đ đã được cấp giấy chứng nhận. Vì vậy, đề nghị sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/3/2000 cấp cho ông Lê Minh Đ.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 230/2022/DS-PT ngày 11 tháng 5 năm 2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; mục I.1 Phần 1, khoản 4 mục I.2.4 Phần 2 Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”; khoản 1, 3, 5 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị M.
- Sửa Bản án sơ thẩm số 269/2021/DSST ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Lê Minh Đ về việc: 1) Buộc bà Lê Thị M, bà Lê Thị S và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tụng của bà Lê Thị M1 là bà Hồ Thị R1 trả lại cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Lê Minh Đ phần đất diện tích 549,5 m² thuộc thửa 212 và phần đất diện tích 221 m² thuộc thửa 191-1 tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại xã T thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/3/2000 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Lê Minh Đ theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH T7 vẽ ngày 08/9/2015; 2) Giao trả hiện trạng đất trống.
2.2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị M:
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/3/2000 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Lê Minh Đ.
Ngoài ra, bản án dân sự phúc thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền, nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 15/9/2022, bà Nguyễn Thị T, ông Lê Minh T1, ông Lê Minh T2, ông Lê Minh H, bà Lê Thị Minh G, bà Lê Thị Minh T3 (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Lê Minh Đ) có đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định số 163/QĐ-VKS-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm. Giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về nguồn gốc thửa đất có tranh chấp: lời khai các bên thống nhất với nhau, phù hợp với chứng cứ các bên cung cấp là “Tờ chân, bán đứt ruộng và đất” ngày 27/2/1959, “Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất” ngày 25/7/1998 của nguyên đơn ông Lê Minh Đ thể hiện nguồn gốc đất do ông Lê Văn S2 (ông nội của ông Đ và bà M) mua của ông Lê Văn B2, bà Nguyễn Thị Đ2 vào năm 1959.
Phía bị đơn bà M cho rằng theo “Tờ chân, bán đứt ruộng và đất” ngày 27/2/1959 thì người mua là ông Lê Văn S2. Nguyên đơn ông Đ cho rằng ông S2 đúng tên mua giùm ông bằng tiền của cha ông là ông Lê Văn H3 để lại và đưa ông giữ tờ giấy mua bán này. Tuy nhiên ông Đ không có chứng cứ gì chứng minh việc ông S2 mua giùm ông vì trên “Tờ chân, bán đứt ruộng và đất” ngày 27/2/1959 chỉ thể hiện người mua là ông Lê Văn S2. Việc ông Đ giữ giấy mua bán cũng không chứng minh được việc ông S2 mua đất giùm cho ông.
[2] Về quá trình sử dụng đất: người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Lê Minh Đ xác nhận: “Ông Đ sinh năm 1945, từ năm 1945 đến năm 1963, ông Đ sống ở C, năm 1963, ông Đ nhập ngũ, đến năm 1985 ông Đ giải ngũ về lại C, từ năm 1985 đến lúc mất ông Đ tạm trú tại địa chỉ 123/1 ấp D, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Quận A)” (Bút lục 407).
Lời khai này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và lời khai của tất cả những người làm chứng ông Nguyễn Văn S1, ông Huỳnh Công Q, bà Cao Thị N2, ông Cao Văn A, ông Trần Văn B, ông Huỳnh Văn H4 là những người sống lâu năm tại địa phương và biết rõ quá trình quản lý sử dụng thửa đất tranh chấp xác định thửa đất tranh chấp do ông Lê Văn B1 quản lý sử dụng từ trước năm 1975 cho đến sau này do các con của ông B1 tiếp tục quản lý sử dụng. Ông Đ cũng thừa nhận việc không trực tiếp sử dụng đất mà cho rằng ông đã cho chú ông là ông Lê Văn B1 trồng cây trên đất. Tuy nhiên, việc ông cho ông Lê Văn B1 mượn đất sử dụng không được phía ông B1 thừa nhận và ông Đ cũng không đưa ra được chứng cứ gì chứng minh việc này. Như vậy, ông Đ từ nhỏ sống ở C, đến năm 18 tuổi ông nhập ngũ, sau khi giải ngũ đã về huyện H sinh sống, không có quá trình quản lý sử dụng đối với thửa đất có tranh chấp và từ sau 18 tuổi không có cư trú tại C. Có căn cứ xác định gia đình ông Lê Văn B1 quản lý sử dụng từ trước năm 1975 cho đến nay.
[3] Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Tại Công văn số 10208/UBND-TNMT ngày 30/12/2013 của Ủy ban nhân dân huyện C xác định: “Phần đất có diện tích 554 m² tổng diện tích 8.911 m² thuộc thửa 212, tờ bản đồ số 6, tài liệu 02/CT-UB, bộ địa chính xã T. Có nguồn gốc của ông Lê Văn S2 (ông nội của ông Đ và bà M) mua lại của ông Lê Văn B2 vào năm 1959. Sau khi mua đất, ông S2 giao phần tổng diện tích đất nêu trên cho ông Lê Minh Đ (vì cha ông Đ là ông Lê Văn H3 đã chết) quản lý sử dụng cho đến nay. Năm 2000, ông Đ được Ủy ban nhân dân xã T xét đề nghị Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (dạng đại trà) số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/03/2000 tổng diện tích 8.911 m² thuộc thửa số 191, 211, 212, 213, 214,
292, 418, 419, tờ bản đồ số 06 (tài liệu 02/CT-UB), bộ địa chính xã T, trong đó có phần diện tích 554 m² do ông Nguyễn Minh Đ3 đứng tên là đúng quy định, vì ông Đ3 là người có quá trình quản lý sử dụng đất từ trước giải phóng cho đến nay”. Như vậy, căn cứ để Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận cho ông Đ3 là “Sau khi mua đất, ông S2 giao phần tổng diện tích đất nêu trên cho ông Lê Minh Đ (vì cha ông Đ là ông Lê Văn H3 đã chết) quản lý sử dụng cho đến nay ... ông Đ là người có quá trình quản lý sử dụng đất từ trước giải phóng cho đến nay” là hoàn toàn không phù hợp với thực tế khách quan, các tài liệu, chứng cứ, lời khai của người làm chứng, cũng như lời thừa nhận của phía nguyên đơn là ông Lê Văn B1 (sau này là những người con ông B1) là người sử dụng đất từ trước năm 1975 cho đến nay.
Thời điểm cấp giấy chứng nhận là ngày 06/3/2000, nên phải áp dụng Luật đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 điều chỉnh.
Điều 2 Luật đất đai năm 1993 quy định:
“1- Người sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
2- Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của N5 dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền N Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”.
Như vậy, chỉ có những người trực tiếp sử dụng đất mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Đ cũng không có tài liệu chứng cứ thể hiện ông được chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998.
Việc không thực hiện đúng trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận theo hướng dẫn tại Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, dẫn đến việc ký và đóng dấu xác nhận của Ủy ban nhân dân xã ngày 20/12/1998 trên “Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất” ngày 25/7/1998 của ông Lê Minh Đ trong khi ông Đ không phải là “tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất”, trên đơn không có ý kiến của Hội đồng đăng ký đất đai theo quy định tại khoản 4 mục I.2.4 Phần 2 của Thông tư; Ủy ban nhân dân cấp huyện đã thực hiện việc cấp giấy chứng nhận ngày 06/3/2000, trước khi qua kiểm tra, thẩm định cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân huyện là cơ quan địa chính xác nhận trong đơn ngày 29/6/2000, là vi phạm mục 1.3 Phần 2 của Thông tư về Thủ tục xét duyệt của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền.
Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/3/2000 cho ông Lê Minh Đ không tuân thủ
trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận, dẫn đến sai về nội dung, cụ thể cấp giấy chứng nhận cho ông Đ không phải là cá nhân đang sử dụng đất nhưng lại cho rằng “ông Đ là người có quá trình quản lý sử dụng đất từ trước giải phóng cho đến nay”, hồ sơ cấp giấy chứng nhận cũng không có tài liệu thể hiện ông Đ nhận chuyển nhượng, tặng cho hợp pháp từ người khác đối với thửa đất đang tranh chấp do gia đình của bà M đang sử dụng.
Vì vậy, yêu cầu phản tố của bị đơn bà M về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đ là có căn cứ. Tuy nhiên thửa đất tranh chấp thuộc một phần của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/3/2000 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp nhưng để đảm bảo tính hiệu lực của giấy chứng nhận trường hợp này không thể hủy một phần quyết định hành chính nên cần phải tuyên hủy toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/3/2000 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp. Ủy ban nhân dân huyện C cần căn cứ quy định pháp luật về đất đai để cấp giấy chứng nhận đúng đối tượng và đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
[4] Nguyên đơn ông Đ yêu cầu buộc bị đơn giao trả đất chỉ căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/3/2000 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông. Ông Đ không có chứng cứ, chứng minh thửa đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Đ và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp sai phải bị hủy bỏ nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Đ.
Do đó, Tòa án cấp cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Minh Đ về việc buộc bà Lê Thị M, bà Lê Thị S và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị M1 là bà Hồ Thị R1 trả lại phần đất diện tích 549,5 m² thuộc thửa 212 và phần đất diện tích 221 m² thuộc thửa 191-1 tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại xã T. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lê Thị M về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1622/QSDĐ/GCN ngày 06/3/2000 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Lê Minh Đ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[5] Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc đề nghị hủy bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm. Giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm là không có cơ sở nên không chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 337 và Điều 343 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
[1] Không chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 163/QĐ-VKS-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Giữ nguyên Bản án dân sự phúc thẩm số 230/2022/DS-PT ngày 11 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn là ông Lê Minh Đ với bị đơn là bà Lê Thị M, Lê Thị S, Lê Thị M1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.
[3] Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
|
Nơi nhận:
|
TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Khoa |
Quyết định số 241/2024/DS-GĐT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số quyết định: 241/2024/DS-GĐT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 163/QĐ-VKS-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên Bản án dân sự phúc thẩm số 230/2022/DS-PT ngày 11 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
