Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-PT

Ngày: 18/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Vinh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Ông Phan Vĩnh Chuyển

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Tùng Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 189/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Bạch T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2024/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Bạch T (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 02/01/1983 tại Bình Định; Nơi cư trú: K T, tổ A phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông Nguyễn Đ và bà Trần Thị K; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngôi nhà và thửa đất số 432, tờ bản đồ số 10 tại địa chỉ A H, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng thuộc sở hữu của vợ chồng Hà Quang M và Nguyễn Thị Bạch T theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3402083206 (sau đây viết tắt là Giấy CNQSHN và QSDĐ) do UBND thành phố Đ cấp ngày 28/8/2004. Ngày 18/3/2021, M, T thế chấp nhà đất tại A H cho Ngân hàng C chi nhánh Đ1 (viết tắt: Ngân hàng V; địa chỉ: B N, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng) để đảm bảo cho khoản vay 12.460.000.000₫ của T và Công ty TNHH S (T là người đại diện theo pháp luật).

Ngày 30/5/2022 tại Văn phòng C1, M, T ký với Dương Thị L Hợp đồng mua bán nhà đất để bán nhà đất tại A H cho L với số tiền 16.000.000.000₫, L đặt cọc trước 3.000.000.000₫, còn lại 13.000.000.000₫ thanh toán vào ngày 30/6/2022; M, T chịu thuế, phí rút Giấy CNQSHN và QSDĐ và các khoản tiền phạt do trả nợ trước hạn cho ngân hàng V, bà L chịu các khoản phí còn lại. Ông Trần Văn H và bà Trần Thị Bích N cùng trú tại số I N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng là người chứng kiến.

Vào ngày 31/5/2022, theo yêu cầu của T và Công ty TNHH S, Ngân hàng V có Thông báo số 67 xác định tổng số nợ của T và Công ty S tạm tính là 14.408.700.451 đồng.

Ngày 01/6/2022 tại VPCC Nguyễn Thị T1, M, T ký với L Hợp đồng ủy quyền số công chứng 2979 (viết tắt: Hợp đồng số 2979) với nội dung: Lũy được thay mặt M, T trả nợ gốc, lãi, phí, các khoản phải trả khác; nhận lại bản chính Giấy CNQSHN và QSDĐ; đăng ký xóa thế chấp nhà đất tại số A H tại ngân hàng; sau khi xóa thế chấp được nhận Giấy CNQSHN và QSDĐ từ cơ quan có thẩm quyền và toàn quyền quyết định về nhà đất nói trên. Lũy đặt cọc 3.020.000.000₫ và dùng số tiền này thay M, T trả nợ vợ chồng ông H, bà N 1.000.000.000 đồng, trả bà Trương Thị Ngọc H1 1.500.000.000 đồng và trừ nợ 520.000.000₫. Lũy cầm Hợp đồng số 2979 liên hệ Ngân hàng V để làm thủ tục trả nợ thay M, T. Căn cứ Hợp đồng số 2979, L dùng số tiền mua nhà đất tại A H còn lại, thay M, T trả nợ cho Ngân hàng V, cụ thể: Chuyển vào tài khoản số [...] của T mở tại Ngân hàng V số tiền lần lượt là 12.500.000.000₫, 102.000.000₫, 145.300.000đ và nộp tiền mặt 81.000.000₫ là tiền lãi Ngân hàng V. Tổng cộng Luỹ thay M, T thanh toán cho Ngân hàng V số tiền là 12.828.300.000₫. Lũy nhận lại Giấy CNQSHN và QSDĐ số 3402083206 từ Ngân hàng V.

Đến ngày 18/7/2022 tại VPCC Nguyễn Thị T1, M, T và L ký Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền số công chứng 3501 (viết tắt: Hợp đồng số 3501) để hủy bỏ Hợp đồng số 2979 và ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, số công chứng 3502 (viết tắt: Hợp đồng số 3502) với nội dung: M, T chuyển nhượng QSD đất, QSH nhà và tài sản gắn liền với đất tại A H cho L với số tiền 6,5 tỷ đồng. Lũy đã xóa thế chấp và điều chỉnh biến động tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T (viết tắt: CN VPĐKĐĐ) và thực hiện nghĩa vụ tài chính tại Chi cục Thuế khu vực T2 - Liên Chiểu, giá tính thuế thu nhập cá nhân (viết tắt: TNCN) và lệ phí trước bạ (viết tắt: LPTB) là 8 tỷ đồng. Lũy đã nộp 40 triệu đồng LPTB cho bản thân, nộp 160 triệu đồng thuế TNCN thay M, T. Tổng cộng, L đã thanh toán số tiền 16.008.300.000 đồng mua nhà đất tại A H cho M, T. Ngày 19/7/2022, CN VPĐKĐĐ quận T đã điều chỉnh chủ sở hữu nhà đất trên Giấy CNQSHN và QSDĐ số 3402083206 sang cho L. Ngày 23/3/2023, Cục Thuế thành phố Đ có Kết luận giám định và biên bản xác minh ngày 25/7/2023, xác định: Theo Hợp đồng số 3502 thì bên chuyển nhượng là Hà Quang M và Nguyễn Thị Bạch T, bên nhận chuyển nhượng là Dương Thị L. Hợp đồng này thể hiện giá trị chuyển nhượng nhà đất là 6,5 tỷ đồng, Lũy chịu trách nhiệm nộp thuế TNCN và LPTB. Như vậy, L chịu trách nhiệm nộp thuế TNCN và LPTB cho phần giá trị chuyển nhượng 6,5 tỷ đồng này.

Hợp đồng mua bán nhà đất và hồ sơ thu thập thể hiện thực tế M, T chuyển nhượng nhà đất cho L với số tiền 16 tỷ đồng và L đã kê khai, nộp thuế TNCN và LPTB cho 08 tỷ đồng, còn lại 08 tỷ đồng chưa được kê khai và nộp thuế TNCN, LPTB. Do M, T và L không có thỏa thuận khác về việc nộp thuế cho phần 08 tỷ đồng còn lại nên theo quy định của pháp luật về thuế thì M, T phải chịu trách nhiệm kê khai và nộp thuế TNCN, L chịu trách nhiệm kê khai và nộp LPTB. Như vậy, M, T có hành vi trốn thuế TNCN với số tiền 160 đồng, L có hành vi trốn LPTB với số tiền 40 triệu đồng. Việc M, T và L kê khai giá nhà đất chuyển nhượng thấp hơn giá chuyển nhượng thực tế dẫn đến ngân sách Nhà nước bị thiệt hại 200 triệu đồng (160 triệu đồng thuế TNCN và 40 triệu đồng LPTB). Ngày 16/6/2023, Phòng K1 Công an T3 có Kết luận giám định số 505, xác định: Chữ ký, chữ viết “Hà Quang Minh" trên Phiếu yêu cầu công chứng ghi ngày 01/6/2022; chữ ký, chữ viết “Nguyễn Thị Bạch Tuyết" trên Phiếu yêu cầu công chứng ghi ngày 18/7/2022; chữ ký, chữ viết “Hà Quang M”, “Nguyễn Thị Bạch T”, “Dương Thị L” trên Hợp đồng số 2979, Hợp đồng số 3501, Hợp đồng số 3502 so với mẫu so sánh đều do cùng một người ký và viết ra.

Ngày 24/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận T có Công văn số 291 đề nghị Phòng K1 Công an thành phố T3 giám định bản photo Hợp đồng mua bán nhà đất, ghi ngày 30/5/2022 tại VPCC Nguyễn Thị T1 giữa bên bản: Nguyễn Thị Bạch T, Hà Quang M và bên mua: Dương Thị L (gồm 02 tờ A4). Ngày 29/5/2023, Phòng K1 có Công văn số 267 từ chối giám định tài liệu photo.

Ngày 18/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận T có Quyết định số 156 trưng cầu Phòng K1 Công an thành phố T3 và ngày 24/10/2023 có Quyết định số 158 trưng cầu Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng về việc giám định thời điểm viết ra chữ ký, chữ viết của Hà Quang M, Nguyễn Thị Bạch T và Dương Thị L trên Hợp đồng số 2979, 3501, 3502, Phiếu yêu cầu công chứng ghi ngày 01/6/2022, 18/7/2022. Ngày 18/10/2023, Phòng K1 có Công văn số 526 và ngày 30/10/2023, Phân viện Khoa học hình sự có Công văn số: 318 từ chối giám định với lý do: Nội dung cần giám định vượt quá khả năng chuyên môn.

Ngày 08/9/2023, khám xét chỗ ở của Hà Quang M, Nguyễn Thị Bạch T tại K T, phường T, quận T, TP .. Cơ quan điều tra tạm giữ một số tài liệu, giấy tờ có liên quan đến hành vi trốn thuế của M, T.

* Vật chứng tạm giữ: Chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh KhT2 bảo quản, chờ xử lý đối với số tiền 40.000.000₫ do Dương Thị L tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra.

Trong giai đoạn phúc thẩm, bị cáo M, T nộp mỗi bị cáo 10.000.000 đồng theo biên lai thu số 0000362 ngày 06/11/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

Tại bản án sơ thẩm số 113/2024/HSST ngày 15/8/2024 của TAND quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bạch T phạm tội “Trốn thuế”.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Nguyễn Thị Bạch T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay ngày 15/8/2024.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 26/8/2024, bị cáo Nguyễn Thị Bạch T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chuyển hình phạt án treo sang hình phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Thị Bạch T vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được chịu hình phạt tiền, xin không hưởng án treo vì còn ấn định thời gian thử thách sẽ ảnh hưởng đến gia đình và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Các bị cáo Nguyễn Thị Bạch T, Hà Quang M và Dương Thị L đều là những người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, có trình độ văn hóa nhất định. Các bị cáo là người kinh doanh, đã thực hiện nhiều giao dịch chuyển nhượng bất động sản là nhà, đất nên hiểu rõ quy định về việc nộp thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ khi thực hiện các giao dịch chuyển nhượng. Tuy nhiên, để giảm số tiền thuế phải nộp, các bị cáo đã thống nhất kê khai giá trị chuyển nhượng thấp hơn so với thực tế, cụ thể, giá trị chuyển nhượng trên thực tế nhà, đất tại A H, phường V, quận T giữa vợ chồng bị cáo với bị cáo L là 16 tỷ đồng nhưng giá trị chuyển nhượng thể hiện trên hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất có công chứng là 6,5 tỷ đồng và khi thực hiện việc kê khai đóng thuế, thì tính giá trị nhà, đất theo số tiền 08 tỷ đồng, chỉ bằng 1/2 giá trị chuyển nhượng thực tế.

Qua Kết luận giám định thuế của Cục thuế thành phố Đ xác định, số tiền trốn thuế thu nhập cá nhân của các bị cáo là 160.000.000 đồng. Vợ chồng Hà Quang M và Nguyễn Thị Bạch T với Dương Thị L không có thỏa thuận khác về việc nộp thuế cho phần 08 tỷ đồng còn lại, nên theo quy định của pháp luật về thuế thì vợ chồng bị cáo M, T phải chịu trách nhiệm kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân còn bị cáo L chịu trách nhiệm kê khai và nộp lệ phí trước bạ.

Bản thân các bị cáo, mặc dù thấy được hậu quả của việc trốn thuế, nhận thức được sự nghiêm khắc của pháp luật khi phát hiện có hành vi trốn thuế; tuy nhiên, vì mục đích vụ lợi nên các bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định về quản lý thuế, làm giảm hiệu lực quản lý của các cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, gây ảnh hưởng đến hoạt động lành mạnh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, gây tiêu cực nhiều mặt trong đời sống xã hội; phạm vào tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 200 BLHS.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Bạch T kháng cáo xin được áp dụng hình phạt tiền.

Xét thấy: Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ TNHS mà các bị cáo có, cân nhắc về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo để tuyên phạt các bị cáo Hà Quang M mức phạt tiền 150.000.000₫ và bị cáo Dương Thị L mức phạt tiền 120.000.000đ là phù hợp nhưng lại áp dụng Điều 65 BLHS để tuyên buộc bị cáo Nguyễn Thị Bạch T mức án 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là chưa đảm bảo tính công bằng giữa các bị cáo trong vụ án bởi tính chất, mức độ và vai trò của các bị cáo trong vụ án là ngang nhau.

Ngoài ra, tại phần quyết định của bản án đã tuyên:

“Buộc bị cáo Dương Thị L nộp 20.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị Bạch T 10.000.000 đồng và bị cáo Hà Quang M 10.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục quy trữ số tiền 40.000.000 đồng Dương Thị L đã nộp và số tiền 80.000.000 đồng Nguyễn Thị Bạch T, Hà Quang M đã nộp để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án”, là không chính xác, bởi lẽ: Các bị cáo trong vụ án trốn thuế TCCN với số tiền 160.000.000đ, lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 160.000.000₫ mà các bị cáo Dương Thị L, Hà Quang M, Nguyễn Thị Bạch T đã trốn thuế, trong đó bị cáo Dương Thị L là 60.000.000đ, các bị cáo Hà Quang M, Nguyễn Thị Bạch T là 100.000.000đ. Bị cáo Dương Thị L đã nộp số tiền 40.000.000 đồng và các bị cáo Nguyễn Thị Bạch T, Hà Quang M đã nộp số tiền 80.000.000 đồng thì cần tiếp tục quy trữ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án nên phải tuyên buộc bị cáo Dương Thị L tiếp tục nộp 20.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị Bạch T 10.000.000 đồng và bị cáo Hà Quang M 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước mới đầy đủ và rõ ràng.

Từ những phân tích trên, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 BLTTHS, đề nghị chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bạch T, chuyển hình phạt tù cho hưởng án treo của bị cáo T sang hình phạt tiền với số tiền 120.000.000đ đồng thời sửa về phần quyết định như nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm có đủ căn cứ để khẳng định:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Bạch T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên HĐXX có cơ sở khẳng định:

Bị cáo Hà Quang M và Nguyễn Thị Bạch T là chủ sở hữu hợp pháp nhà và đất tại A H, phường V, quận T, Tp Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3402083206 do UBND thành phố Đ cấp ngày 28/8/2004.

Ngày 30.5.2022, bị cáo Dương Thị L với vợ chồng bị cáo M, T đã ký hợp đồng mua bán nhà đất nhà và đất nói trên với giá 16.000.000.000 đồng, L đặt cọc trước 3.000.000.000 đồng, còn lại 13.000.000.000 đồng sẽ thanh toán vào ngày 30.6.2022.

Ngày 01/6/2022, vợ chồng bị cáo M, T uỷ quyền cho bị cáo L được trả nợ gốc, lãi, phí, các khoản phải trả khác thay của M, T tại Ngân hàng V. Tổng cộng L thay mặt vợ chồng M, T thanh toán cho Ngân hàng 12.828.300.000 đồng.

Ngày 18/7/2022 tại VPCC Nguyễn Thị T1, cả ba bị cáo ký văn bản huỷ hợp đồng uỷ quyền nói trên và ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, số công chứng 3502 có nội dung, M, T chuyển nhượng nhà và đất nói trên với giá 6.500.000.000 đồng. Luỹ có nghĩa vụ nộp thay thuế thu nhập cá nhân của M, T trên số tiền chuyển nhượng 8.000.000.000 đồng là 160.000.000 đồng và 40.000.000 đồng lệ phí trước bạ (L đã nộp đủ 200.000.000 đồng). Ngày 19/7/2022, chi nhánh V1 đã chỉnh lý biến động, sang tên Dương Thị L. Vợ chồng bị cáo M, T đã có thu nhập từ việc chuyển nhượng nhà và đất nói trên 16.008.300.000 đồng nhưng các bị cáo chỉ ghi trong hợp đồng chuyển nhượng 6.500.000.000 đồng và kê khai thuế với giá chuyển nhượng 8.000.000.000 đồng. Do vậy, các bị cáo M, T, L đã dùng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 3502 không đúng với giá chuyển nhượng thực tế nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị Bạch T về tội “Trốn thuế” theo điểm đ khoản 1 Điều 200 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bạch T, HĐXX thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực xâm phạm các quy trình về quản lý thuế, làm giảm hiệu lực quản lý của các cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, làm thất thoát nguồn thu của Nhà nước trong lĩnh vực thuế. Tuy nhiên, sau khi biết có hành vi trốn thuế, vợ chồng bị cáo M, T đã tự nguyện nộp lại số tiền thuế đã trốn là 120.000.000 đồng. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 BLHS. Ngoài ra, khách thể của tội danh này thuộc lĩnh vực kinh tế nên áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo là phù hợp. Vì vậy, HĐXX có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bạch T, sửa Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[4]. Mặc khác, để thực hiện hành vi trốn thuế, cả ba bị cáo đều thống nhất, tự nguyện ký hợp đồng chuyển nhượng ghi giá 6.500.000.000 đồng. Vợ chồng bị cáo M, T có nghĩa vụ chịu thuế thu nhập cá nhân nhưng bị cáo L là người trực tiếp chịu trách nhiệm đi kê khai thuế với cơ quan nhà nước, nộp thay tiền thuế thu nhập cá nhân của bị cáo M, T. Như vậy, cả ba bị cáo đều là đồng phạm trong vụ án, vai trò của ba bị cáo là ngang nhau nên Bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo M 150.000.000 đồng và bị cáo L 120.000.000 đồng là chưa phù hợp tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án. Vì vậy, mặc dù, bị cáo M không yêu cầu kháng cáo nhưng HĐXX phúc thẩm xét thấy cần thiết phải điều chỉnh mức hình phạt đối với bị cáo M và không làm xấu đi tình trạng của bị cáo nên điều chỉnh giảm mức phạt tiền từ 150.000.000 đồng xuống 120.000.000 đồng theo quy định tại Điều 345 BLTTHS.

[5].Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, tịch thu nộp Ngân hàng N1 số tiền 20.000.000 đồng các bị cáo trốn thuế, bị cáo Hà Quang M, Nguyễn Thị Bạch T đã nộp theo theo biên lai thu số 0000362 ngày 06/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh KhT2.

[6]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7]. Do được chấp nhận kháng cáo, nên bị cáo Nguyễn Thị Bạch T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào Điều 345, điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bạch T, sửa Bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bạch T 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Hà Quang M 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).

2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, tịch thu nộp Ngân hàng N1 số tiền trốn thuế còn lại là 20.000.000 đồng, bị cáo Hà Quang M, Nguyễn Thị Bạch T đã nộp theo theo biên lai thu số 0000362 ngày 06/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh KhT2.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Bạch T không phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Phòng HSNV - Công an TP Đà Nẵng;
  • - CQ THAHS-Công an quận Thanh Khê;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - CQCSĐT Công an quận Thanh Khê;
  • - Toà án nhân dân quận Thanh Khê;
  • - Chi cục THA dân sự quận Thanh Khê;
  • - Vụ GĐKT I – TAND tối cao;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hữu Vinh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 24/2025/HS-PT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm (trốn thuế)

  • Số quyết định: 24/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trốn thuế)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 189/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Bạch Tuyết do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2024/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger