TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Số: 233/2025/QĐST-HNGĐ | Hà Nội, ngày 03 tháng 4 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213; khoản 4 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào biên bản thuận tình ly hôn thỏa thuận việc nuôi con, chia tài sản khi ly hôn ngày 26/3/2025.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc Hôn nhân và gia đình thụ lý 149/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1996
Đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà B ngách A ngõ L, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Anh Nguyễn Khắc D, sinh năm 1991
Đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà B ngách A ngõ L, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Khắc D xây dựng gia đình với nhau năm 2017. Anh chị có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 15/02/2017 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, đời sống vợ chồng không phù hợp do bất đồng trong tính cách, quan điểm và lối sống nên thường xuyên xảy ra xung đột, cãi vã khiến cho cuộc sống hôn nhân ngày càng trở nên căng thẳng, trầm trọng, ảnh hưởng tới tâm lý của con cái. Dù nhiều lần hai vợ chồng ngồi lại nói chuyện tìm cách giải quyết vấn đề, gia đình hai bên cố gắng khuyên nhủ, hàn gắn nhưng không có kết quả. Đến nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh chị cùng làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh chị được thuận tình ly hôn. Xét yêu cầu thuận tình ly hôn của chị P và anh D là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên ghi nhận.
[2]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Khắc D có 01 con chung là cháu Nguyễn Nhật L (nữ), sinh ngày 31/12/2019. Sau ly hôn, anh chị thỏa thuận, anh Nguyễn Khắc D là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nhật L. Chị Nguyễn Thị P cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 3/2025 cho đến khi cháu Nguyễn Nhật Linh trưởng T (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Xét việc thỏa thuận nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của chị P, anh D là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình nên ghi nhận.
[3]. Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Khắc D tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4]. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Khắc D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5]. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Khắc D thỏa thuận để chị P chịu cả 300.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân:
Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Khắc D.
- Về con chung:
Xác nhận chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Khắc D có 01 con chung là cháu Nguyễn Nhật L (nữ), sinh ngày 31/12/2019. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị P, anh D: Giao cho anh Nguyễn Khắc D là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nhật L, chị Nguyễn Thị P tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu L hàng tháng, mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Việc giao nuôi con và cấp dưỡng nuôi con được thực hiện kể từ ngày 03/4/2025 cho đến khi cháu Nguyễn Nhật Linh trưởng T (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định khác thay thế.
Chị Nguyễn Thị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung (Động sản và bất động sản):
Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Khắc D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét.
- Về nợ chung:
Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Khắc D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét.
2. Về lệ phí Tòa án: Chị Nguyễn Thị P tự nguyện chịu cả 300.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị P đã nộp 300.000 đồng tại Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số [...] ngày 06/3/2025. Xác nhận chị Nguyễn Thị P đã nộp đủ.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Đặng Thị Hường |
Quyết định số 233/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 233/2025/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Khắc D. - Về con chung: Xác nhận chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Khắc D có 01 con chung là cháu Nguyễn Nhật L (nữ), sinh ngày 31/12/2019. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị P, anh D: Giao cho anh Nguyễn Khắc D là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nhật L, chị Nguyễn Thị P tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu L hàng tháng, mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Việc giao nuôi con và cấp dưỡng nuôi con được thực hiện kể từ ngày 03/4/2025 cho đến khi cháu Nguyễn Nhật Linh trưởng T (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định khác thay thế. Chị Nguyễn Thị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản. - Về tài sản chung (Động sản và bất động sản): Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Khắc D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét. - Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Khắc D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét.
