|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 25-6-2025
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Đẹp
Bà Cao Thị Diệu Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Nguyễn Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 60/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Lan P, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: số A đường số D, KDC A, khóm H, Phường B, Tp ., Đ.
Bị đơn: Anh Lê Hoàng Đ, sinh năm: 1980.
Địa chỉ: số A đường số D, KDC A, khóm H, Phường B, Tp ., Đ.
Nguyên đơn chị P có mặt, bị đơn anh Đ vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Lan P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh Đ quen biết và tìm hiểu nhau khoảng 01 năm. Năm 2000 chị P và anh Đ chung sống vợ chồng có tổ chức đám cưới, đến ngày 27/7/2009 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S, Đ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Cuối năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, thường xuyên gây gỗ, anh Đ không phụ giúp chị P chăm lo cho các con. Đầu năm 2024 chị P nộp đơn tại Tòa án nhân dân thành phố S yêu cầu ly hôn anh Đ nhưng được Tòa án động viên cho anh Đ cơ hội hàn gắn tình cảm nên chị P rút đơn và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Nhưng sau đó mâu thuẫn giữa chị P và anh Đ càng trầm trọng hơn, không có tiếng nói chung, anh Đ không sửa đổi. Vì vậy, cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc, chị P sống ly thân với anh Đ từ đầu năm 2024 đến nay.
Chị P nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn được, tình cảm đối với anh Đ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nay chị P yêu cầu ly hôn anh Đ.
- Về nuôi con chung: Có 03 con chung tên Lê Hoàng Minh N, sinh ngày 10/11/2002; Lê Hoàng Phương N1, sinh ngày 31/8/2006; Lê Hoàng Phương L, sinh ngày 27/02/2014. Hiện các con đang sống chung với chị P và anh Đ, sau khi ly hôn chị P yêu cầu được nuôi con chung tên Lê Hoàng Phương L, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Đối với con chung tên Lê Hoàng Minh N, Lê Hoàng Phương N1 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị P xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Lê Hoàng Đ:
Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc hoãn phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- - Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự (nguyên đơn) đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án:
- - Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P.
- - Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị P. Chị P được nuôi con chung tên Lê Hoàng Phương L, anh Đ không cấp dưỡng nuôi con.
- Đối với con chung tên Lê Hoàng Minh N, Lê Hoàng Phương N1 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Về chia tài sản chung, nợ chung: Đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp ly hôn. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại phường B, thành phố S, tỉnh Đ. Do đó, căn cứ vào Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Đ.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Hoàng Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc hoãn phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về nội dung, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị P, anh Đ quen biết và tìm hiểu nhau được 01 năm. Năm 2000 chị P và anh Đ chung sống vợ chồng, có tổ chức đám cưới, đến ngày 27/7/2009 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S, Đ. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh Đ được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa chị P với anh Đ, theo chị P đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, anh Đ không phụ giúp chị P chăm lo cho các con. Chị P khuyên can nhiều lần nhưng anh Đ không sửa đổi, năm 2024 chị P nộp đơn yêu cầu ly hôn anh Đ nhưng được Tòa án động viên cho anh Đ cơ hội hàn gắn tình cảm nên chị P rút đơn khởi kiện. sau thời gian chung sống thì mâu thuẫn giữa chị P và anh Đ càng trầm trọng hơn, không có tiếng nói chung, anh Đ vẫn không sửa đổi tính tình, mặc dù chị P và anh Đ sống chung nhà nhưng từ năm 2024 vợ chồng sống ly thân đến nay, không còn quan tâm lo lắng cho nhau, mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị P yêu cầu ly hôn anh Đ.
Về phía anh Đ quá trình giải quyết vụ án anh Đ mặc dù biết chị P yêu cầu ly hôn nhưng anh không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không có thiện chí đến Tòa tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm với chị P, cho thấy anh Đ đã từ bỏ quyền lợi của mình, anh Đ không mong muốn hàn gắn tình cảm với chị P.
Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...”.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: tình cảm vợ chồng giữa chị P và anh Đ đã không thể hàn gắn được, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Đ, chị P đã thực sự trầm trọng. Do đó, chị P yêu cầu ly hôn anh Đ là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Chị P xác định có 03 con chung tên Lê Hoàng Minh N, sinh ngày 10/11/2002; Lê Hoàng Phương N1, sinh ngày 31/8/2006; Lê Hoàng Phương L, sinh ngày 27/02/2014. Hiện các con đang sống chung với chị P và anh Đ. Qua ý kiến của cháu Lê Hoàng Phương L có nguyện vọng sống với chị P, khi chị P, anh Đ ly hôn. Do đó, chị Lê Thị Lan P được quyền chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên Lê Hoàng Phương L, anh Đ không cấp dưỡng nuôi con.
Anh Đ có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.
Đối với con chung tên Lê Hoàng Minh N, Lê Hoàng Phương N1 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Từ những phân tích, nhận định nêu trên thống nhất đề nghị về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Lan P phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều: 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Lan P. Chị Lê Thị Lan P và anh Lê Hoàng Đ ly hôn.
- Về nuôi con chung:
Buộc anh Lê Hoàng Đ giao con chung tên Lê Hoàng Phương L, sinh ngày 27/02/2014 cho chị Lê Thị Lan P được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn (hiện cháu L đang sống với chị P, anh Đ).
Chị Lê Thị Lan P không yêu cầu anh Lê Hoàng Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Lê Hoàng Đ có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.
Đối với con chung tên Lê Hoàng Minh N, Lê Hoàng Phương N1 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Lê Thị Lan P nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị P đã nộp ngày 25/4/2025 theo biên lai thu số 0006662 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố S, tỉnh Đ, được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
Báo cho các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kiều |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Đẹp Cao Thị Diệu H Nguyễn Thị K
Quyết định số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn
- Số quyết định: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của ly hôn của nguyên đơn
