|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/DS-PT
Ngày 12/4/2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Trung Thực.
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Nga.
Ông Hoàng Hữu Tăng.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 02, 09 và 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 72/2023/TLPT-DS ngày 23 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 15/2023/DS-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20A/2024/QĐXX-PT, ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí L, sinh năm: 1962.
Địa chỉ: Thôn T, T, Y, Hưng Yên.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1960.
Địa chỉ: Thôn L, T, Y, Hưng Yên.
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1964.
- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm: 1964. (Đã chết).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn P:
- Cụ Lê Thị B, sinh năm: 1937.
- Bà Nguyễn Thị T1 sinh năm: 1964.
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1988.
Cùng địa chỉ: Thôn T, T, Y, Hưng Yên.
- Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Số I L, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Cụ Lê Thị B, sinh năm: 1937.
- Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm: 1964.
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1988.
Cùng địa chỉ: T, Thanh L1, Y, Hưng Yên.
- Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Số I L, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Chí L – Nguyên đơn.
(Có mặt ông L, ông T, bà T1, anh T2; vắng mặt những người còn lại)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/04/2021 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Chí L trình bày:
Năm 1995, thôn T, xã T tổ chức đấu thầu một số suất đất xen kẹt, đất trũng, thùng vũng trong thôn để lấy tiền làm đường. Ban đấu thầu gồm trưởng thôn ông Nguyễn Ngọc C làm trưởng ban, ông Nguyễn Văn V, bà Hoàng Thị D, ông Nguyễn Hữu Q, ông Nguyễn Văn K, và ông Nguyễn Chí L. Khi đó ông làm phó thôn kiêm địa chính thôn T. Do không cấm người trong ban tham gia đấu thầu nên ông đã đăng ký đấu thầu, trực tiếp bỏ phiếu đấu thầu và trúng thầu thửa đất số 152. Thửa số 152 đất không bằng phẳng có hố sâu, khi đấu thầu có hai loại giá. Đối với 193,5m² đất bằng phẳng giá trúng thầu là 11.500đồng/1m²; 22,5m² đất thùng sâu giá trúng thầu là 5.750đồng/1m². Sau khi nộp tiền thì ban đấu thầu đã đo đạc và bàn giao đất cho ông, liền kề là rãnh nước do thôn đào lấy đất làm đường diện tích 43m², khi đo đạc bàn giao thì thôn đã giao cho ông cả rãnh nước không thu tiền. Do vậy, thửa 152 có tổng diện tích là 259m². Sau khi nhận đất nhà ông cấy rau muống khoảng hai năm, sau không sử dụng, không cho ai mượn, không cho ai thuê. Ông chưa bao giờ kê khai quyền sử dụng thửa đất 152 với UBND xã T, chưa bao giờ nộp thuế. Toàn bộ tiền đấu thầu thửa đất 152 là của vợ chồng ông. Ông không nhờ ông P đứng tên hộ quyền sử dụng đất, không nhờ vợ chồng ông P quản lý, sử dụng đất, vợ chồng ông chưa bao giờ cho vợ chồng ông P bà T1 mượn thửa đất 152. Thửa đất 152 khi đấu thầu so với mặt nền hiện tại chênh lệch khoảng 60cm, vợ chồng ông P, bà T1 ở liền kề có thời gian đã đào đất của ông để đắp nền nhà, sau đó vợ chồng ông P mua cát, mua đất tôn tạo nâng nền như hiện tại, vợ chồng chồng chưa bao giờ tôn tạo thửa đất 152.
Tháng 01 năm 2021, ông thấy vợ chồng ông P, bà T1 xây nhà sang một phần thửa đất 152. Ông đã yêu cầu dừng lại không được xây lấn sang đất của ông, thì vợ chồng ông P, bà T1 cho rằng thửa đất 152 là của vợ chồng ông P. Vì vậy, ông đã đến xã xem hồ sơ địa chính thì mới biết vợ chồng ông P đã tự kê khai đứng tên quyền sử dụng thửa 152 diện tích 259m² của ông và ghép vào thửa 153. Theo bản đồ đo đạc năm 2015 là thửa 128 diện tích 771m². Ông đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông P, bà T1 phải trả lại vợ chồng ông thửa đất số 152 diện tích 259m².
Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Bà kết hôn với ông Nguyễn Văn P vào tháng 3 năm 1985, ông P đã chết năm 2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sinh sống với bố mẹ chồng. Do nhà đất chật chội nên được địa phương cấp cho một suất đất giãn dân, mẹ chồng bà cho vợ chồng ông L và vợ chồng bà lựa chọn. Do vị trí đất giãn dân là khu cánh đồng hoang vắng, đất sâu thùng vũng, ông L lấy lý do là anh trưởng phải thờ cúng nên không ra ở, đẩy vợ chồng bà ra ở đất giãn dân. Ngày 26/12/1985, thôn xã đo đạc bàn giao đất giãn dân cho vợ chồng bà và ghi tên vợ chồng bà chủ sử dụng thửa 153 diện tích 310m². Liền kề diện tích đất giãn dân là thửa đất ruộng sâu, bỏ hoang, cỏ cây um tùm nằm giữa thửa đất nhà bà được cấp và đất nhà bà K1. Khi vợ chồng bà ra sinh sống thì đã phát quang, san lấp, mua cát, đất tôn tạo hai thửa trong nhiều năm, xây tường bao. Trong năm 1985, nhà bà đã kê khai quyền sử dụng hai thửa, trong đó thửa 153 diện tích 310m², thửa 152 diện tích 259m², đồng thời sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai. Đến năm 2004 đã kê khai và gộp hai thửa 152, 153 thành thửa 128 diện tích 771m², do ông Nguyễn Văn P đứng tên. Tiếp đến năm 2015, nhà bà tiếp tục kê khai đứng tên quyền sử dụng thửa 128 diện tích 771m². Bà khẳng định thửa 152, diện tích 259m² ông L khởi kiện, nhà bà đã kê khai và sử dụng ổn định từ năm 1985 đến nay, nhà ông L chưa bao giờ sử dụng và cũng chưa bao giờ đứng tên thửa đất 152. Năm 1995, thôn tổ chức bán đất xen kẹt để lấy tiền làm đường, chồng bà đấu thầu thửa 152 như nào bà không rõ, do bà không thấy thay đổi gì về người đứng tên thửa 152, nhà bà vẫn sử dụng ổn định bình thường, không có ai tranh chấp. Bà không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông L.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Cụ Lê Thị B: Cụ sinh được 06 người con, do nhà đất chật nên được địa phương cấp đất giãn dân và cụ cho vợ chồng ông P, bà T1 ra sinh sống. Đối với thửa đất ông L và ông P tranh chấp là do thôn bán lấy tiền làm đường, do ông L đấu thầu. Cụ đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của ông L.
- Bà Nguyễn Thị T4: Năm 1995, chồng bà đăng ký và đấu thầu đất với thôn T, chồng bà trong ban tổ chức đấu thầu. Toàn bộ quá trình đăng ký đấu thầu đất, nộp tiền cược, trả giá thầu, nộp tiền đất, nhận đất, đều do ông L thực hiện. Vợ chồng bà không nhờ ông P đăng ký đấu thầu, đặt cược, bỏ giá thầu, không nhờ ông P nhận đất, đứng tên quyền sử dụng đất. Khi thôn bàn giao đất ông L trực tiếp nhận và kê khai quyền sử dụng với thôn, sau khi nhận đất vợ chồng bà cấy rau muống khoảng hai năm, sau bỏ trống không sử dụng. Thửa đất 152 liền kề với đất 153 nhà ông bà P - Thể, khi làm nhà thì vợ chồng ông bà P - Thể đã đào đất ở thửa 152 của nhà bà đổ vào nền nhà, sau đó nhà P - Thể đã mua cát, đất, nấp lại và tôn tạo thành mặt bằng như hiện tại, vợ chồng bà chưa bao giờ đổ đất, đổ cát, tôn tạo gì ở thửa 152. Nhà Phú - Thể đứng tên quyền sử dụng thửa đất 152 diện tích 259m² của vợ chồng bà khi nào bà không biết, bà đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L.
- Anh Nguyễn Quang T5 và chị Nguyễn Thị T3: Anh, chị là con ông Nguyễn Chí P1 và bà Nguyễn Thị T1. Anh, chị không biết nguồn gốc thửa 152 diện tích 259m² như nào, từ khi anh, chị sinh ra cho đến nay thì bố mẹ anh, chị đã quản lý, sử dụng diện tích đất này rồi, do vậy anh, chị đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L.
Những người làm chứng cung cấp:
- Cụ Nguyễn Văn C1: Có thời gian cụ làm lò gạch, vợ chồng bà P1 - Thể có mua gạch của cụ để xây tường rào, do thời gian đã lâu, cụ không nhớ số lượng cụ thể.
- Ông Nguyễn Văn N: Năm 1995, ông có tham gia đấu thầu đất của thôn T, hình thức bỏ phiếu kín tại nhà văn hóa thôn, trước khi bỏ phiếu phải đăng ký và đặt cọc, ông trúng thầu 230m², phải nộp 5.980.000 đồng, sau khi nộp tiền thôn đo đạc bàn giao đất cho ông, ông đã đăng ký kê khai quyền sử dụng.
- Cụ Nguyễn Thị Đ: Cụ là vợ cụ C2, năm 1995 cụ C2 có tham gia đấu thầu đất của thôn T, cụ không tham gia nên không biết cụ thể hình thức đấu thầu như thế nào, chồng cụ đấu thầu hai thửa, sau khi đấu thầu và nộp tiền đã kê khai với thôn và xã, sau đó gia đình cụ đã chuyển nhượng cho nhà T6 và Hảo V1.
- Ông Nguyễn Văn K2: Gia đình ông và ông L2 có mua chung phần đất xen kẹt của thôn, phía trên có các dây néo cột điện, sau khi mua hai nhà phân chia với nhau, ông đã ghép phần đất mua của thôn với phần đất nhà ông.
- Bà Hoàng Thị D: Năm 1995 bà làm thủ quỹ của ban đấu thầu đất của thôn, ban đấu thầu thu tiền đưa cho bà giữ, bà không biết thửa số 152 hiện đang tranh chấp thì ai là người đấu thầu.
- Bà Nguyễn Thị L3: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn K3, chồng bà mất năm 2013. Năm 1995, chồng bà có đăng ký tham gia đấu thầu đất của thôn, nhưng không được tham gia bỏ phiếu đấu thầu. Năm 1985 gia đình bà được cấp một suất đất giãn dân, vị trí liền kề với thửa 152 ông L tranh chấp với nhà bà T1. Nhà bà ra sinh sống đầu tiên, sau đó đến nhà ông bà Q1 - Trước rồi đến nhà P. Vị trí đất tranh chấp là đất thùng vũng bỏ hoang, khi nhà P1 - Thể ra ở thì đã lấy đất đắp nền nhà. Sau đó nhà P1 - Thể mua đất, mua cát tôn tạo thửa đất 152 trong nhiều năm thì mới được bằng phẳng như hiện tại. Từ khi bà ra ở đây, chưa có khi nào bà thấy nhà ông L, bà T4 sử dụng thửa đất này.
- Ông Nguyễn Văn S: Ông làm địa chính thôn T từ năm 1985 - 1989 thì nghỉ, sau đó đến ông Nguyễn Chí L làm, sau khi nghỉ có bàn giao sổ sách cho ông L. Trong thời gian làm địa chính thôn, địa phương có cấp đất giãn dân cho các hộ gia đình trong thôn, trong đó có hộ ông bà Phú T7.
- Ông Nguyễn Văn Đ1: Năm 1995, ông tham gia đấu thầu đất của thôn, ông trúng thầu 110m². Sau khi nộp tiền, thôn bàn giao đất và ông đã kê khai quyền sử dụng với thôn và xã, khi nộp tiền thôn có phát cho ông phiếu thu tiền. Ông L có tham gia đấu thầu đất của thôn năm 1995, còn ông L đấu thầu đất của ông hay đấu thầu hộ ai ông không biết. Năm 2001, ông có mua một chòm đất ao của thôn diện tích khoảng 360m², năm 2003 ông bán lại cho ông L ½ diện tích.
- Bà Nguyễn Thị T8: Năm 1985 gia đình bà được cấp một suất đất giãn dân, vị trí đất là ruộng trũng, cùng cấp với nhà bà có nhà Nhị Q2, B, Phấn T9, P, vị trí đất ông L tranh chấp với nhà ông P1 trước đây là thùng vũng bỏ hoang, vợ chồng ông P1 san lấp và sử dụng từ khi ra ở cho đến nay, chưa khi nào thấy vợ chồng ông bà Lý T10 ra sử dụng.
- Ông Nguyễn Văn Đ2: Năm 1985, gia đình ông cùng một số gia đình khác được cấp đất giãn dân, trong đó có hộ ông P1 bà T7. Vợ chồng ông làm thợ xây, khi gia đình ông ra ở đất giãn dân và làm thợ xây, ông P1 bà T7 có thuê ông xây tường rào ở ba phía thửa đất nhà ông P1 bà T7 quản lý, sử dụng, tường xây 110 bằng gạch đỏ, hiện vẫn còn một bức ở giáp đường xóm, ông P1 bà T7 là người trực tiếp thanh toán tiền công cho ông.
- Ông Nguyễn Văn L4: Ông là cháu của ông Nguyễn Văn K2, ông và ông K2 có mua chung đất xem kẹt của thôn, phần đất có dây níu kéo cột điện ở phía trên, sau khi mua xong ông và ông K2 chia nhau, ông là người trực tiếp mua của thôn và nộp tiền cho thôn, không phải đấu thầu.
- Bà Nguyễn Thị Q3: Khoảng năm 1985, bố mẹ chồng bà được cấp một suất đất giãn dân và cho vợ chồng bà ra sinh sống. Những hộ liền kề nhà bà gồm nhà bà T9, Đ3, Đ4, P. Vị trí đất tranh chấp giữa ông L và ông P1 trước đây là thùng vũng bỏ hoang, vợ chồng ông P1 san lấp và sử dụng từ năm 1985 đến nay, chưa khi nào thấy vợ chồng ông L bà T10 sử dụng.
- Ông Nguyễn Văn S1: Ông là em ruột của ông P1 và ông L, nhà ông có 06 anh chị em, việc ông L và ông P1 đấu thầu đất của thôn như nào ông không biết.
- Ông Nguyễn Ngọc C: Ông nguyên là trưởng thôn Thượng Tài từ năm 1993 đến 1995. Năm 1995, thể theo nguyện vọng của nhân dân cho đấu thầu đất thùng vũng, được sự nhất trí của UBND xã. Ông đã lập ban xây dựng gồm ông Nguyễn Ngọc C, ông Nguyễn Văn V, ông Nguyễn Hữu K4, ông Nguyễn Hữu Q, ông Nguyễn Hải L5, bà Hoàng Thị D. Mục đích để tổ chức đấu thầu đất xen kẹt trong thôn. Đối với thửa đất số 152, diện tích 259m², tại thời điểm năm 1995 ông P1 là người bỏ phiếu và trúng thầu nhưng khi nộp tiền thì ông L5 là người nộp tiền cho ban. Còn tiền đó có phải do ông P1 đưa cho ông L5 hay không thì ông không biết. Cụ thể ông L5 đã nộp 2.300.000đ tương ứng với 216m². Khi đo đạc bàn giao đất có ông và ông Hoàng Huy L6 bàn giao đất, ông P1 là người nhận đất.
Ông Nguyễn Chí L có ở trong ban đấu thầu, mặc dù không cấm và không giới hạn đối tượng đấu thầu nhưng ông ông L không đăng ký đấu thầu, không đặt cọc và không tham gia đấu thầu. Ông Nguyễn Văn P là em ông L đăng ký đấu thầu và trực tiếp đặt cọc 50.000đ và là người đấu thầu đồng thời trúng thầu.
Khi giao đất, Ban tổ chức đấu thầu trong đó có cả ông Nguyễn Chí L cùng cán bộ địa chính xã đo đạc bàn giao đất cho ông P. Ông P là người nhận đất, đứng tên và sử dụng.
- Ông Hoàng Minh L7 – Nguyên cán bộ địa chính xã T và ông Nguyễn Ngọc C - Nguyên là trưởng thôn Thượng Tài tại biên bản xác minh ngày 21/02/2023 cung cấp như sau: Năm 1986, thôn xã cấp đất giãn dân cho hộ ông P 310m². Đất liền kề vị trí này là ruộng nằm trong khu trại chăn nuôi của thôn T. Sau khi được cấp đất, hộ ông P đã đào đất ở vị trí liền kề đắp vào nền đất được cấp. Khi đo đạc lập bản đồ năm 1992 đến 1994 thì diện tích đất ông P được cấp là 310m². Vị trí đất ao liền kề đất được cấp là thửa số 152, diện tích 259m² do hộ ông P đang sử dụng nên cũng ghi tên là Nguyễn Văn P trên sổ mục kê hai thửa 152, 153.
Năm 1995, UBND xã cho thôn T tổ chức đấu thầu đất xen kẹt, thùng vũng trong khu dân cư trong đó có thửa 152 diện tích 259m². Hộ ông P đứng ra bỏ thầu thửa 152. Khi nộp tiền thì ông L nộp tiền. Sau khi đấu thầu xong thì thôn xã đã đứng ra đo đất và bàn giao đất. Ông P là người đứng ra nhận đất thửa 152, diện tích là 225m² (vì trong thửa 152 có một gốc cây xà cừ nên đã trừ đi thì diện tích còn lại giao cho ông P là 225m²).
Đối với sổ bìa màu xanh ghi thôn T thể hiện: STT 79 họ tên Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị T1, ở cột nguồn gốc sử dụng đất ghi là cấp năm 1986, diện tích mới là 771m², diện tích cũ là 535m², có sự tẩy xóa. Sổ này do chính ông Nguyễn Chí L thời điểm đó là phó thôn T kiêm địa chính thôn lập sau năm 2004.
Từ khi ông L7 và ông C công tác đến khi về hưu (ông L7 về 2005, ông C năm 1996) thì hộ ông L không có khiếu nại hoặc tranh chấp gì đối với diện tích đất tại thửa 152.
Ông C cung cấp thêm: Ngoài văn bản thu tiền đất dịch vụ và chi tiền có trong hồ sơ, không còn tài liệu nào thể hiện việc ông Nguyễn Chí L là người nộp tiền. Văn bản thu tiền do chính ông C lập. Tại thời điểm đó ông L là phó thôn kiêm địa chính thôn và cũng là người giữ tiền.
Kết quả xác minh tại UBND xã T thể hiện:
Năm 1995 thôn T tổ chức đấu thầu đất xen kẹt, ông C là trưởng thôn làm trưởng ban, ông L làm phó thôn là thành viên tổ đấu thầu, ai muốn đấu thầu phải đăng ký và đặt cọc, ông Nguyễn Văn P có đặt cọc và trúng thầu.
Theo Văn bản thu tiền đất dịch vụ và chi hai lần xây dựng (tháng 01 năm 1995) thôn T, do nguyên trưởng thôn Nguyễn Ngọc C cung cấp, có ghi thu tiền với diện tích cụ thể như sau:
Ông Nguyễn Văn C3, diện tích 245m², số tiền 5.980.000 đồng; ông Nguyễn Văn Đ5, diện tích 200m², số tiền 5.640.000 đồng; ông Nguyễn Văn N, diện tích 230m², số tiền 5.980.000 đồng; ông Nguyễn Văn T11, diện tích 230m², số tiền 5.290.000 đồng; ông Nguyễn Hữu C4, diện tích 327m², số tiền 4.905.000 đồng; ông Nguyễn Văn C5, hai thửa, mỗi thửa 275m², tổng số tiền 12.400.000 đồng; ông Nguyễn Văn Đ1, diện tích 110m², số tiền 4.369.500 đồng; ông Nguyễn Chí L, diện tích 216m², số tiền 2.300.000 đồng; ông Nguyễn Văn K2, diện tích 106m², số tiền 636.000đồng; ông Nguyễn Văn L4, diện tích 36m², số tiền 216.000đồng. Ông K2 và ông L4 mua chung phần đất có đường dây điện đi qua, sau đó hai bên tự phân chia với nhau.
*Theo bản đồ lập năm 2004 chỉnh lý năm 2015, tờ bản đồ số 22, diện tích đất của những người có tên trên thuộc các thửa như sau:
Đối với đất của ông Nguyễn Văn C3, thuộc thửa 235, diện tích 285m² do ông Nguyễn Văn C3 đứng tên quyền sử dụng.
Đối với đất của ông Nguyễn Văn Đ5, thuộc thửa 222 diện tích 204m² do chị Nguyễn Thị O là con gái ông Đ5 đứng tên quyền sử dụng.
Đối với đất của ông Nguyễn Văn N, thuộc thửa 231 diện tích 239m² do vợ chồng anh Nguyễn Văn H và chị Ngô Thị N1 là con trai, con dâu ông N đứng tên quyền sử dụng.
Đối với đất của ông Nguyễn Văn T11, thuộc thửa 232 diện tích 230m² do anh Nguyễn Văn T2 và chị Nguyễn Thị H1 là con trai và con dâu ông T11 đứng tên quyền sử dụng.
Đối với đất của ông Nguyễn Hữu C4, thuộc thửa 244 diện tích 299m² do anh Nguyễn Ngọc S2 là con trai đứng tên quyền sử dụng và một phần diện tích nằm trong thửa 243 diện tích 495m² do ông Nguyễn Văn X là anh ruột đứng tên quyền sử dụng.
Đối với đất của ông Nguyễn Văn C5, ông C5 đã chuyển nhượng cho ông Phạm Văn T12 thửa 216 diện tích 216m², ông Nguyễn Văn T13, ông T13 chuyển nhượng lại cho vợ chồng anh Q4 chị N2, thửa 219 diện tích 181m², ông Nguyễn Văn H2 - Vân thửa 220 diện tích 186m².
Đối với đất của ông Nguyễn Văn Đ1, thuộc thửa 114 diện tích 138m² do ông Nguyễn Văn Đ1 đứng tên.
Đối với đất ông Nguyễn Chí L, nằm trong thửa 128 diện tích 771m² do ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị T1 đứng tên quyền sử dụng.
Đối với đất của ông Nguyễn Văn K2, có một phần diện tích nằm trong thửa 176 diện tích 388m² do anh Nguyễn Văn K5 là con trai ông K2 đứng tên quyền sử dụng.
Đối với đất của ông Nguyễn Văn L4, nằm trong thửa 166 diện tích 665m², ông L4 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T14.
Theo danh sách của thôn T, 11 hộ nộp tiền đất năm 1995, thì có 10 hộ đã kê khai, đứng tên quyền sử dụng đối với diện tích đất mình nộp tiền, thể hiện ở sổ mục kê, bản đồ và sổ còn lưu ở UBND xã T. Đối với ông Nguyễn Chí L, tại sổ theo dõi, bản đồ, sổ mục kê, không thể hiện tên ông Nguyễn Chí L đứng tên quyền sử dụng đối với diện tích đất ông L nộp tiền. Đất ông Lý k đòi nằm trong một phần thửa 128, diện tích 771m² do ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị T1 đứng tên quyền sử dụng. Hiện trưởng thôn Thượng Tài và UBND xã T không có bất cứ chứng từ, giấy tờ, tài liệu gì, liên quan đến việc 11 hộ trên đấu thầu đất và nộp tiền cho thôn T năm 1995. Do vậy không xác định được năm 1995 ông L có tham gia đấu thầu đất hay không. Không xác định được ông L nộp tiền cho thôn là do ông đấu thầu đất của thôn hay nộp hộ nhà ông P, bà T1.
Tại bản đồ lập năm 1990, tờ số 02 thể hiện: Thửa 152, diện tích 259m² thửa 153, diện tích 310m² đều do ông Nguyễn Văn P đứng tên quyền sử dụng.
Theo bản đồ năm 2004 chỉnh lý năm 2015, thửa 128 diện tích 771m² đứng tên ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị T1, nhà ông P bà T1 nộp thuế đến nay.
Theo kết quả thẩm định thửa 152 phía bắc có tường xây 110 gạch đỏ, cao 80cm tính từ mặt nền, dài 15,6m. Năm 2021, bà T1 và các con xây nhà trên thửa 153 và 152.
Tại bản án số 15/2023/DS - ST ngày 20/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí L về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị T1 phải trả lại thửa đất số 152, tờ bản đồ số 02 lập năm 1990 diện tích 259m², tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Chí L kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L và đại diện theo ủy quyền là ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đối với số tiền 2.300.000đ, ông L không yêu cầu gia đình bà T1 phải trả mà chỉ đề nghị phía gia đình bà T1 trả lại phần đất còn lại sau khi đã trừ phần nhà đã xây sang thửa 152 khoảng 50m². Bản thân ông khẳng định, ông là người đấu thầu và là người được giao thửa đất 152.
Bà T1 xác định việc đấu thầu và trúng thầu là do ông P trực tiếp tham gia và gia đình bà đã được ban đấu thầu thôn Thượng Tài bàn giao đất. Gia đình đã tiến hành đăng ký, kê khai và nộp thuế theo quy định đồng thời sử dụng ổn định trong một thời gian dài không có tranh chấp. Về số tiền 2.300.000đ, bà khai là do chồng bà và ông L thực hiện bằng nguồn tiền là của gia đình bà và ông L chỉ là người nộp thay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Chí L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
Ông Nguyễn Chí L có đơn kháng cáo trong thời hạn và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo là hợp lệ và được xem xét, giải quyết.
[2]. Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Chí L thì thấy:
[2.1]. Về nguồn gốc thửa đất số 152, diện tích 259m² và quá trình quản lý, sử dụng:
Ông L, bà T10 cho rằng năm 1995, ông L đấu thầu sau đó cấy rau muống khoảng hai năm rồi bỏ hoang. Phía bà T1 trình bày thửa đất đã được gia đình bà sử dụng từ năm 1985 đến nay.
Căn cứ hồ sơ địa chính được lưu giữ tại địa phương thể hiện: Theo tờ bản đồ số 02, lập năm 1990: Thửa 152 diện tích 259m² do ông Nguyễn Văn P (chồng bà T1) đứng tên quyền sử dụng. Những người làm chứng là các hộ gia đình liền kề với thửa đất 152 xác định vị trí thửa đất số 152 là đất thùng vũng, bỏ hoang. Hộ ông P, bà T1 đã sử dụng từ năm 1985 và là người xây tường bao, san lấp mặt bằng, tôn tạo thửa đất trong thời gian dài. Chưa có khi nào vợ chồng ông L bà T10 sử dụng thửa đất 152, phù hợp với hồ sơ quản lý đất đai tại địa phương, không có bất cứ sổ sách, bản đồ thể hiện ông L bà T10 đứng tên quyền sử dụng thửa 152. Phù hợp với lời khai của ông L, bà T10 thừa nhận chưa bao giờ tôn tạo, san lấp và nộp thuế đối với thửa đất tranh chấp. Quá trình xác minh thể hiện hộ bà T1, ông P là người trực tiếp quản lý sử dụng và nộp thuế thửa đất số 152. Do vậy, có căn cứ xác định ông P, bà T1 là người sử dụng thửa đất 152 liên tục từ năm 1985 đến nay.
[2.2]. Về việc đấu thầu đất tranh chấp:
Ông L, bà T10 khai năm 1995 tham gia đấu thầu thửa 152 diện tích 259m² và là người nộp tiền, sau đó nhận đất và kê khai quyền sử dụng.
Tuy nhiên, lời khai của vợ chồng ông L là mâu thuẫn và không chính xác. Căn cứ lời khai của ông Nguyễn Ngọc C là trưởng thôn kiêm trưởng ban đấu thầu, ông Hoàng Minh L7 là địa chính xã T thời điểm thầu đất thì ông P mới là người đăng ký đặt cọc 50.000đ và trúng thầu đối với thửa đất số 152, còn ông L chỉ là người nộp tiền cho ban đấu thầu số tiền 2.300.000đ. Sau khi trúng thầu thì thôn xã đã đứng ra đo đất và bàn giao đất. Ông P là người đứng ra nhận đất thửa 152, diện tích là 225m² (vì trong thửa 152 có một gốc cây xà cừ nên đã trừ đi thì diện tích còn lại giao cho ông P là 225m²).
Trên thực tế, ông L không xuất trình được hóa đơn nộp tiền đối với thửa 152. Danh sách thu tiền do trưởng thôn liệt kê các khoản thu của thôn đối với diện tích đất đấu thầu có ghi tên ông L số tiền nộp 2.300.000 đồng. Tuy nhiên không ghi cụ thể vị trí, số tờ, số thửa đất trúng thầu.
[2.3]. Về việc kê khai, quản lý, sử dụng đất tranh chấp:
Theo hồ sơ quản lý đất đai còn lưu ở thôn T và xã T. Không có bất cứ sổ sách, bản đồ, sổ mục kê, tài liệu nào thể hiện ông L, bà T10 đứng tên quyền sử dụng thửa 152, diện tích 259m². Phía gia đình ông L, bà T10 cũng chưa bao giờ nộp thuế đối với thửa đất tranh chấp.
Ông L, bà T10 xác định không cho ông P bà T1 mượn đất, không nhờ ông P, bà T1 đứng tên hộ, quản lý hộ thửa 152. Tuy nhiên về mặt khách quan, vợ chồng ông P, bà T1 là người đứng tên và trực tiếp sử dụng thửa đất 152 liên tục từ năm 1985 đến nay. Việc quản lý sử dụng đất trước cả thời điểm đấu thầu. Đến năm 1995 khi thôn T tổ chức đấu thầu, ông P là người bỏ thầu và trúng thầu thửa 152 đồng thời được bàn giao đất. Vợ chồng ông bà Phú T7 là người đã xây tường bao, đổ đất, cát tôn tạo thửa 152 trong thời gian dài không xảy ra tranh chấp, phía vợ chồng ông L cũng không có ý kiến gì. Phù hợp với lời khai của những người làm chứng là các hộ liền kề đều xác định chỉ có vợ chồng ông P quản lý, tôn tạo và sử dụng thửa đất tranh chấp. Bản đồ lập các năm 1990; 2005; 2015 cùng sổ mục kê kèm theo và các sổ theo dõi khác đều do ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị T1 đứng tên quyền sử dụng.
Trên thực tế thì ông C – nguyên trưởng ban đấu thầu kiêm trưởng thôn, ông L7 – nguyên cán bộ địa chính xã T thời điểm tổ chức đấu thầu đất xen kẹp đã xác định: ông P mới là người trực tiếp đấu thầu và trúng thầu. Ban đấu thầu trong đó có ông C, ông L7 và cả ông L là những người đã bàn giao đất cho ông P. Phù hợp với sổ bìa màu xanh ghi thôn T do chính ông Nguyễn Chí L thời điểm đó là phó thôn T kiêm địa chính thôn lập sau năm 2004 thể hiện tại: STT 79 họ tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị T1, ở cột nguồn gốc sử dụng đất ghi là cấp năm 1986, diện tích mới là 771m², diện tích cũ là 535m².
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L cho rằng việc gia đình bà T1 xây tường bao thửa đất tranh chấp là do ông nhờ và bỏ tiền ra thanh toán. Tuy nhiên ông không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Việc xây tường bao được ông Nguyễn Văn Đ1 là thợ xây thừa nhận là do ông P, bà T1 có thuê ông xây tường rào ở ba phía thửa đất nhà ông P bà T1 quản lý, sử dụng, tường xây 110 bằng gạch đỏ, hiện vẫn còn một bức ở giáp đường xóm, ông P bà T1 là người trực tiếp thanh toán tiền công cho ông.
Ngoài ra, nếu việc ông L nộp tiền cho thửa đất 152 bằng nguồn tiền của ông là có thật thì theo tinh thần Án lệ số 33/2020/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 05/02/2020 và được công bố theo Quyết định 50/QĐ-CA25/02/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Cụ thể tình huống án lệ: Cá nhân được Nhà nước cấp đất nhưng không sử dụng mà để người khác quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài từ khi được giao đất. Trong quá trình sử dụng đất, người này đã tôn tạo đất, xây dựng nhà ở ổn định, đăng ký kê khai quyền sử dụng đất mà người được cấp đất không có ý kiến gì. Thì sẽ không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất.
Tổng hợp các tài liệu chứng cứ và phân tích nêu trên. Phải xác định thửa đất tranh chấp là của gia đình ông P. Việc cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L là có cơ sở.
Vì vậy, kháng cáo của ông Nguyễn Chí L là không có căn cứ chấp nhận.
[3]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông L phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308, 148 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Chí L. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 15/2023/DS-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Chí L phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ ông L đã nộp theo biên lai thu số 9548 ngày 03/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mỹ. Ông L đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Trung Thực |
Quyết định số 22/2024/DS-PT ngày 12/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số quyết định: 22/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
