TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 2173/2024/QÐST-HNGĐ | Thành phố Thủ Đức, ngày 30 tháng 5 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Điều 212 và Điều 213, Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 55, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 959/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1992
Địa chỉ: 363/38/57 L, khu phố E, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bà Nguyễn Ngàn T, sinh năm 1993
Địa chỉ: A T, khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc và căn cứ lời khai của đương sự trong quá trình tố tụng, Tòa án nhận định:
[1] Ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Ngàn T chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 52/2019 ngày 20 tháng 3 năm 2019. Như vậy, hôn nhân giữa ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Ngàn T là hôn nhân hợp pháp.
Trong thời gian chung sống vợ chồng thực tế có phát sinh mâu thuẫn, do không phù hợp về tính cách, vợ chồng không có sự quan tâm chia sẽ với nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Vợ chồng ông bà đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2020. Đến nay, ông N và bà T xác định không thể chung sống với nhau được nữa. Xét tình trạng mâu thuẫn giữa ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Ngàn T đã trầm trọng, cuộc sống chung thực sự không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ông N và bà T yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho ông bà là có cơ sở.
[2] Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Duy B, sinh ngày 06/5/2019. Ông N và bà T đã thỏa thuận giao con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
[3] Về tài sản chung: Không có.
[4] Về nợ chung: Không có.
[5] Ngày 22 tháng 5 năm 2024, Tòa án đã lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành và ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, con chung và tài sản chung.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành và ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Ngàn T thuận tình ly hôn.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52/2019 ngày 20 tháng 3 năm 2019 do Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Ngàn T không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Duy B, sinh ngày 06/5/2019.
Giao con chung tên Nguyễn Duy B cho bà Nguyễn Ngàn T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Thành N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/1 tháng (ba triệu đồng trên một tháng), kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con.
Trường hợp ông Nguyễn Thành N không tự nguyện thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con thì bà Nguyễn Ngàn T có quyền yêu cầu Thi hành án. Kể từ ngày bà T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông N chưa trả hết tiền cấp dưỡng thì còn phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm (mười phần trăm một năm) tương ứng với thời gian chậm trả.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
2. Về lệ phí hôn nhân và gia đình: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mỗi người phải nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) và được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí mà ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Ngàn T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026381 ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông N và bà T đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Hồ Thị Thu Hiền |
Quyết định số 2173/2024/QÐST-HNGĐ ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 2173/2024/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận thuận tình ly hôn
