|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-02-2025.
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Mẫn.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Công Bằng
- Bà Trương Ngọc Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành A.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tưởng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 201/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-HN ngày 13 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1991
Địa chỉ: ấp X, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Có mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1989
Địa chỉ: ấp X, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Văng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Quốc T tự quen biết, sau một thời gian tìm hiểu thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang vào ngày 27/5/2015. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 9/2024 cho đến nay. Chị nhận thấy cuộc sống hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.
Về con chung: Thời gian chung sống, chị và anh T có 03 con chung tên Nguyễn Quốc Gia P, giới tính: Nam, sinh ngày 13/01/2016, Nguyễn Quốc Gia T1, giới tính: Nam, sinh ngày 02/02/2019, Nguyễn Quốc Gia A, giới tính: Nam, sinh ngày 14/7/2023, hiện các con đang sống cùng với chị N từ lúc ly thân. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Quốc T quá trình tố tụng đã được Toà án Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng không đến toà nên chưa thể hiện ý kiến.
Tại phiên toà: Chị Lê Thị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Quốc T tiếp tục vắng mặt nên không thể phát biểu yêu cầu nào mới.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phát biểu:
- Về tố tụng: Việc thu thập chứng cứ từ khi thụ lý vụ án của Thẩm phán, mở và điều khiển phiên toà của Hội đồng xét xử tại phiên toà là tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt là chưa chấp hành theo quy định.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tuyên xử chấp nhận cho chị Lê Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T. Giao con chung tên Nguyễn Quốc Gia P, giới tính: Nam, sinh ngày 13/01/2016, Nguyễn Quốc Gia T1, giới tính: Nam, sinh ngày 02/02/2019, Nguyễn Quốc Gia A, giới tính: Nam, sinh ngày 14/7/2023 cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng, anh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Án phí hôn nhân gia đình buộc chị N phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Toà xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp cần phải giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Quốc T, hiện tại có nơi cư trú tại ấp X, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A.
[3] Về xét xử vắng mặt: anh Nguyễn Quốc T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt.
Về nội dung tranh chấp:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Nguyễn Quốc T chung sống với nhau từ năm 2015, có tổ chức lễ cưới và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang theo quy định nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Chị N yêu cầu ly hôn vì cho rằng chị và anh T chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường hay cự cải dẫn đến mất hạnh phúc, T2 đã mở phiên hòa giải để tạo điều kiện cho anh, chị được đoàn tụ nhưng anh T không tham dự. Xét quan hệ hôn nhân phải dựa trên nền tảng thương yêu, tôn trọng, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tạo lập gia đình hạnh phúc nhưng chị N và anh T chung sống phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 9/2024 cho đến nay lại không tạo điều kiện hàn gắn thể hiện mâu thuẫn đã trầm trọng, chị N kiên quyết yêu cầu được ly hôn, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Lê Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.
[2]. Về con chung: Chị N và anh T sống với nhau có 03 con chung tên Nguyễn Quốc Gia P, giới tính: Nam, sinh ngày 13/01/2016, Nguyễn Quốc Gia T1, giới tính: Nam, sinh ngày 02/02/2019, Nguyễn Quốc Gia A, giới tính: Nam, sinh ngày 14/7/2023, hiện tại các cháu đang sống chung với chị N. Anh T biết chị N yêu cầu ly hôn và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng vẫn không thể hiện ý kiến gì về việc nuôi con. Xét thấy cháu Nguyễn Quốc G Phát hiện tại đã trên 7 tuổi, theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình thì việc giao cháu cho ai được trực tiếp nuôi dưỡng phải xem xét nguyện vọng của cháu và tại Biên bản lấy lời khai của cháu P, thể hiện nếu cha mẹ không sống chung nữa thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ; Đối với cháu Nguyễn Quốc G A dưới 36 tháng tuổi theo quy định được giao cho người mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng khi ly hôn; Đối với cháu Nguyễn Quốc Gia T1 tuy anh T chưa có ý kiến gì về việc nuôi con nhưng trong thời gian anh và chị N sống ly thân với nhau cháu T1 sống chung với chị N, anh T không tới lui thăm nom, chăm sóc cho cháu T1, qua đó thể hiện sự thiếu trách nhiệm của anh T đối với các con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, giao các con chung cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.
[3]. Về tài sản chung: Không có nên không giải quyết.
[4]. Về nợ chung: Không có nên không giải quyết
[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc chị Lê Thị N phải chịu theo quy định.
[6]. Về phát biểu đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà. Xét, phát biểu về thủ tục tố tụng và đề nghị về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định, Toà chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 150, Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí kèm theo.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.
- Về con chung: Giao các con chung tên Nguyễn Quốc Gia P, giới tính: Nam, sinh ngày 13/01/2016, Nguyễn Quốc Gia T1, giới tính: Nam, sinh ngày 02/02/2019, Nguyễn Quốc Gia A, giới tính: Nam, sinh ngày 14/7/2023 cho chị Lê Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Quốc T chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.
- Về tài sản chung: Không có nên không giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Chuyển 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu số 0004835 ngày 05/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí. Chị N không phải nộp thêm.
Anh Nguyễn Quốc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Trần Minh Mẫn |
Quyết định số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số quyết định: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho ly hôn
