Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2024/QÐST- HNGĐ

Hải Dương, ngày 19 tháng 04 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 120/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/3/2024, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn ". Theo Quyết định mở phiên họp số 134/2024/QĐMPH-HNGĐ ngày 10/04/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

  • * Người yêu cầu:

    1. Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 23/5/1998. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: KDC P, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Hiện đang sinh sống: Đài Loan.
    2. Anh Nguyễn Văn B, sinh ngày 04/9/1994. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: KDC P, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Hiện đang sinh sống: Đài Loan.
  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    • Bà Từ Thị C, sinh năm 1970. Địa chỉ : Thôn M, xã B, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
    • (Chị T, anh B, bà C đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn B cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện :

Về quan hệ vợ chồng: Chị T và anh B tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã C (nay là thành phố C) tỉnh Hải Dương ngày 19/5/2017. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, đôi lúc có xảy ra mâu thuẫn nhưng sau đó cả hai đã tự giải quyết. Tháng 10/2018 anh B đi Đài Loan lao động, thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc, tuy nhiên do vợ chồng sống xa nhau dẫn đến mất niềm tin, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Tháng 6/2019 chị T về nhà mẹ đẻ ở, đến năm 2020 thì sang Đài Loan lao động nhưng hai bên không tìm được tiếng nói chung. Nay chị T, anh B đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai bên cùng làm đơn ly hôn, đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị.

Về quan hệ con chung : Chị T, anh B có 1 con chung là Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 17/12/2017, hiện con đang sinh sống cùng ông bà ngoại là ông Nguyễn Công B1 và bà Từ Thị C. Ly hôn chị T, anh B thỏa thuận chị T tiếp tục nuôi con, trong thời gian chị T ở nước ngoài, chị đồng ý để con ở cùng ông bà ngoại. Chị T tự nguyện không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh B đều xác định không có, ly hôn anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về lệ phí: Chị T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Từ Thị C trình bày: Bà là mẹ đẻ của chị T, hiện tại bà đang chăm sóc cháu Nguyễn Thị Bình A. Bà đồng ý nhận ủy quyền của chị T về việc chăm sóc cháu A trong thời gian chị T không ở Việt Nam, đồng thời bà đề nghị được giải quyết vắng mặt.

- Anh Nguyễn Cửu T1 A là người đại diện theo ủy quyền của chị T, anh B có quan điểm: Sau khi nhận văn bản tố tụng của Tòa án anh đã thông tin cho chị T, anh B biết. Chị T, anh B vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ việc: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị T và anh B. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 17/12/2017 cho chị Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị T không ở Việt Nam, tạm giao cháu A cho bà Từ Thị C chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Nguyễn Văn B cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị T chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn B có địa chỉ tại KDC P, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Hiện chị T, anh B đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, do vậy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Tài liệu chị T, anh B gửi về Việt Nam gồm đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt đã được chứng thực của Văn phòng K tại Đ. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản anh B, chị T gửi về là đúng ý chí của anh chị .

Chị T ủy quyền cho bà Từ Thị C chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Bình A trong thời gian chị không ở Việt Nam, nên Tòa án xác định bà C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Chị T, anh B, bà C đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn B được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã C (nay là thành phố C) tỉnh Hải Dương ngày 19/5/2017, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh B có thời gian dài đi lao động ở nước ngoài nên vợ chồng thiếu sự quan tâm, chia sẻ dẫn đến bất đồng quan điểm. Năm 2020 chị T cũng sang Đài Loan lao động nhưng vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Nay anh B, chị T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương công nhận sự thuận tình ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh B đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh chị.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn B có một con chung là Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 17/12/2017. Ly hôn anh B, chị T thỏa thuận, chị T là người trực tiếp nuôi con. Xét thấy, thực tế chị T và anh B đều ở nước ngoài, cháu A đang ở với ông bà ngoại, được ông bà chăm sóc và phát triển tốt. Do đó cần chấp nhận sự thỏa thuận của anh B, chị T, tiếp tục giao cháu Bình A cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị T không ở Việt Nam, tạm giao cháu Bình A cho bà Từ Thị C chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh Bằng cấp d nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn B đều xác định không có, không đề nghị giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[3]. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị T chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn B.
  2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn B, giao cháu Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 17/12/2017 cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Trong thời gian chị T không ở Việt Nam, tạm giao cháu A cho bà Từ Thị C chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện chị T không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh Nguyễn Văn B được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  3. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị T tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số 0000518 ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T đã nộp đủ lệ phí.
  4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Bến Tắm;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ.

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 21/2024/QÐST- HNGĐ ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn

  • Số quyết định: 21/2024/QÐST- HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger