|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 203/2025/QĐST-HNGĐ |
T, ngày 29 tháng 5 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 55, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự (HNGĐ) thụ lý số 200/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Ông Trần Văn C, sinh năm: 1987; địa chỉ: Số nhà C, đường L, khu phố N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước; địa chỉ tạm trú: Số H, ĐX06, Khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. SĐT: 0906.373.xxx.
- Bà Hồ Thị H, sinh năm: 1988; địa chỉ: Số nhà F, đường Đ, Tổ D, Khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. SĐT: 0978.521.xxx.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hôn nhân: Bà Hồ THị H và ông Trần Văn C chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50 ngày 03/6/2011.
Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hạnh phúc, quan tâm, lo lắng cho nhau, cuộc sống gia đình đầm ấm, hạnh phúc. Tuy nhiên, đầu năm 2025, bà H, ông C bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn chia sẻ, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và sống ly thân nhau từ tháng 01/2025 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, bà H, ông C chỉ quan tâm về con chung, không trao đổi với nhau về vấn đề tình cảm vợ chồng. Gia đình hai bên cũng khuyên can, hòa giải nhưng bà H, ông C cũng không thể hàn gắn được tình cảm. Hiện nay, bà H, ông C nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn tình cảm ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
[2] Về con chung và nuôi con: Trong thời gian chung sống, bà H và ông C có 02 con chung là Trần Minh Đ (nam), sinh ngày 19/11/2011 và Trần Minh H1 sinh ngày 28/7/2020. Sau khi ly hôn, bà H và ông C thỏa thuận, bà H trực tiếp nuôi con chung Trần Minh Đ sinh ngày 19/11/2011; ông C trực tiếp nuôi con chung Trần Minh H1, sinh ngày 28/7/2020.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H và ông C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H và ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Việc thỏa thuận của các đương sự được ghi nhận trong Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
- Về hôn nhân: Bà Hồ Thị H và ông Trần Văn C thuận tình ly hôn.
(theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50, đăng ký ngày 03/6/2011 tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước)
- Về con chung và nuôi con: Bà H trực tiếp nuôi con chung Trần Minh Đ (nam), sinh ngày 19/11/2011; ông Trần Văn C trực tiếp nuôi con chung Trần Minh H1 (nam), sinh ngày 28/7/2020.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H và ông C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung (không trực tiếp nuôi dưỡng) của bà H, ông C. Bà H, ông C không được lạm dụng việc thăm nom con chung (không trực tiếp nuôi dưỡng) để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung của các bên. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà H, ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về lệ phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà H, ông C mỗi người chịu 150.000₫ (một trăm năm mươi ngàn đồng), được trừ vào số tiền 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001829 ngày 24/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
3. Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Trần Thanh Bình |
Quyết định số 203/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 203/2025/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau: - Về hôn nhân: Bà Hồ Thị H và ông Trần Văn C thuận tình ly hôn. (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50, đăng ký ngày 03/6/2011 tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước) - Về con chung và nuôi con: Bà H trực tiếp nuôi con chung Trần Minh Đ (nam), sinh ngày 19/11/2011; ông Trần Văn C trực tiếp nuôi con chung Trần Minh H1 (nam), sinh ngày 28/7/2020. - Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H và ông C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung (không trực tiếp nuôi dưỡng) của bà H, ông C. Bà H, ông C không được lạm dụng việc thăm nom con chung (không trực tiếp nuôi dưỡng) để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung của các bên. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản chung, nợ chung: Bà H, ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Về lệ phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà H, ông C mỗi người chịu 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng), được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001829 ngày 24/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
