Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25-02-2025.

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Mẫn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thị Hồng Thơm
  2. Bà Trương Ngọc Điệp

– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Thư ký Toà án nhân dân

huyện Châu Thành A.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 195/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 3B/2025/QĐST-HN ngày 06 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn H, sinh năm 1981

Địa chỉ: ấp H, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt

- Bị đơn: Chị Trần Hồng X, sinh năm 1978

Địa chỉ: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn anh Huỳnh Văn H trình bày: Anh và chị Trần Hồng X tự quen biết, sau một thời gian tìm hiểu thì tiến tới hôn nhân, hai bên có tổ chức lễ cưới tại địa phương và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang vào ngày 09/6/2003. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 9/2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, cả hai đã sống ly thân năm 2022 cho đến nay. Anh nhận thấy cuộc sống hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Hồng X.

Về con chung: Thời gian chung sống, anh và chị X có 02 con chung tên Huỳnh Nhật H1, giới tính: Nam, sinh ngày 16/4/2011 và Huỳnh Nhật H2, giới tính: Nam, sinh ngày 19/8/2005, hiện tại cháu H2 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, cháu H1 đang sống chung với chị X nên anh đồng ý để chi Xia được tiếp tục nuôi con, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn chị Trần Hồng X quá trình tố tụng đã được Toà án Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng không đến toà nên chưa thể hiện ý kiến.

Tại phiên toà: Anh Huỳnh Văn H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Chị Trần Hồng X tiếp tục vắng mặt nên không thể phát biểu yêu cầu nào mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp. Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Toà xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp cần phải giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết. Bị đơn trong vụ án là chị Trần Hồng X, hiện tại có nơi cư trú tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A.

[3] Về xét xử vắng mặt. Anh Huỳnh Văn H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, chị Trần Hồng X là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt.

Về nội dung tranh chấp:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị X chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang theo quy định nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Anh H yêu cầu ly hôn vì cho rằng anh và chị X chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến mất hạnh phúc, T đã mở phiên hòa giải để tạo điều kiện cho anh, chị được đoàn tụ nhưng chị X không tham dự. Xét quan hệ hôn nhân phải dựa trên nền tảng thương yêu, tôn trọng, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tạo lập gia đình hạnh phúc nhưng anh H, chị X chung sống có phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay lại không tạo điều kiện hàn gắn thể hiện mâu thuẫn đã trầm trọng, anh H kiên quyết yêu cầu được ly hôn, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Huỳnh Văn H được ly hôn với chị Trần Hồng X.

[2]. Về con chung: Anh H yêu cầu giao con chung cho chị X nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Anh H và chị X sống với nhau có 02 con chung tên Huỳnh Nhật H1, giới tính: Nam, sinh ngày 16/4/2011 và Huỳnh Nhật H2, giới tính: Nam, sinh ngày 19/8/2005. Cháu H2 đã trưởng thành nên anh H không có yêu cầu gì, do cháu H1 sống chung với chị X nhưng chị X không có mặt trong quá trình tiến hành tố tụng nên không thể ghi nhận được ý kiến của cháu H1 xem cháu có nguyện vọng được sống chung với ai, hơn nữa anh H cũng tự nguyện để cho cháu H1 được tiếp tục sống chung với chị X không có tranh chấp. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của anh H giao cháu Huỳnh Nhật H1 cho chị Trần Hồng X được trực tiếp nuôi dưỡng, anh Huỳnh Văn H chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

[3]. Về tài sản chung: Không có nên không giải quyết.

[4]. Về nợ chung: Không có nên không giải quyết

[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc anh Huỳnh Văn H phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 150, Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí kèm theo.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Huỳnh Văn H được ly hôn với chị Trần Hồng X.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Nhật H1, giới tính: Nam, sinh ngày 16/4/2011 cho chị Trần Hồng X được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Huỳnh Văn H chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị X chưa yêu cầu. Anh Huỳnh Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở.
  3. Về tài sản chung: Không có nên không giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có nên không giải quyết.
  5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc anh Huỳnh Văn H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Chuyển 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp theo biên lai thu số 0004826 ngày 31/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí. Anh H không phải nộp thêm.
  6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang
  • - VKSND huyện Châu Thành A
  • - Chi cục THA dân sự huyện Châu Thành A
  • - UBND xã Thạnh Xuân
  • - Đương sự
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Mẫn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số quyết định: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger