|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 02/2024/QÐST- HNGĐ |
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 6 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Hồng Phương
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thuỳ Dương – Thư lý Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên:
Bà Lê Ngọc Kim Loan – Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn". Theo Quyết định mở phiên họp số 02/2024/QĐMPH-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu:
- Anh Lưu Văn Q, sinh năm 1983
Địa chỉ thường trú trước khi xuất nhập cảnh: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam.
Nơi ở hiện nay: Đài Loan. Có đơn xin vắng mặt.
- Chị Hà Thị Phương T; sinh năm 1990.
Địa chỉ thường trú trước khi xuất nhập cảnh: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam.
Nơi ở hiện nay: Đài Loan. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai của anh Lưu Văn Q và chị Hà Thị Phương T cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện :
Về quan hệ vợ chồng: Ngày 16/9/2011 anh Lưu Văn Q và chị Hà Thị Phương T tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Năm 2016 anh Q sang Đài Loan sinh sống và làm việc, hai vợ chồng xa cách nhau. Năm 2018 chị Hà Thị Phương T sang Đài Loan làm việc, nhưng hai vợ chồng không thể hoà hợp, sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay anh Q và chị T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và đều có yêu cầu được thuận tình ly hôn.
Về con chung: Chị T và anh Q có 01 con chung là Lưu Hà Ngọc A, sinh ngày 29/9/2012, hiện nay con chung của anh chị đang ở cùng ông bà nội là ông Lưu Văn N và bà Mai Thị T1, địa chỉ: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Chị T và anh Q thoả thuận chị Hà Thị Phương T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Trong thời gian chị T làm việc tại Đài Loan, anh Q và chị T đề nghị Toà án giao cháu Lưu Hà Ngọc A cho ông Lưu Văn N và bà Mai Thị T1 trực tiếp chăm sóc cháu Ngọc A đến khi chị T trở về Việt Nam. Ông Lưu Văn N và bà Mai Thị T1 nhất trí thoả thuận của chị T và anh Q. Cháu Lưu Hà Ngọc A có nguyện vọng ở với chị T.
Về lệ phí: Anh Lưu Văn Q tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.
Chị T và anh Q đang sinh sống tại Đài Loan và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ việc. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh Q và chị T và thoả thuận con chung. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Q chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận định:
[1]. Về tố tụng: Anh Lưu Văn Q và chị Hà Thị Phương T đều có hộ khẩu trước khi xuất cảnh tại xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam.
Tài liệu của anh Q và chị T gửi về Việt Nam gồm đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu Toà án công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, hộ chiếu đều được chứng thực của Văn phòng K tại Đ. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản anh Q và chị T nộp tại Tòa án là đúng ý chí, nguyện vọng của chị T và anh Q
Chị T và anh Q có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt anh Q và chị T.
[2]. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lưu Văn Q và chị Hà Thị Phương T được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết tại UBND thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, do vậy hôn nhân của chị T và anh Q là hợp pháp. Chị T và anh Q đều xác định vợ chồng đã sống ly thân nhau từ lâu, không còn quan tâm chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn và cùng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên công nhận sự thuận tình ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh Q và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu thuận tình ly hôn của anh chị.
Về con chung: Chị T và anh Q có 01 con chung là Lưu Hà Ngọc A, sinh ngày 29/9/2012, chị T và anh Q yêu cầu công nhận về quyền nuôi con: Giao cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung là Lưu Hà Ngọc A, sinh ngày 29/9/2012 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, người được uỷ quyền trực tiếp chăm sóc cháu Lưu Hà Ngọc A trong thời gian chị T ở nước ngoài là ông Lưu Văn N, sinh năm 1962 và bà Mai Thị T1, sinh năm 1965, địa chỉ: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là phù hợp với quan điểm của ông N và bà T1 cũng như nguyện vọng của cháu Lưu Hà Ngọc A mong muốn được chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Q và chị T tự thoả thuận, không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Q và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
[3]. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Q chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37; Điều 38; Điều 39; Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lưu Văn Q và chị Hà Thị Phương T.
2. Về con chung: Chị Hà Thị Phương T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung là Lưu Hà Ngọc A, sinh ngày 29/9/2012 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Người được uỷ quyền trực tiếp chăm sóc cháu Lưu Hà Ngọc A trong thời gian chị T ở nước ngoài là ông Lưu Văn N, sinh năm 1962 và bà Mai Thị T1, sinh năm 1965, địa chỉ: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Anh Q có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Q và chị T không yêu cầu giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không đề nghị giải quyết.
4. Về lệ phí: Anh Lưu Văn Q tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000₫ theo biên lai thu số 0000186 ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Lê Thị Hồng Phương |
Quyết định số 02/2024/QÐST- HNGĐ ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 02/2024/QÐST- HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: quyet thao
