|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI - TỈNH BẾN TRE Số: 197/2023/QÐST-HNGĐ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Ba Tri, ngày 22 tháng 8 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 313/2023/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Hồng Đ, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Số D, ấp H, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Anh Lê Phong C, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Số B, ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 14 tháng 8 năm 2023.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 14 tháng 8 năm 2023 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
- Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trương Thị Hồng Đ và anh Lê Phong C. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 139, ngày 11/12/2007 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực.
- Công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự:
- Về con chung: Chị Trương Thị Hồng Đ có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Trương B, sinh ngày 29/3/2009 và Trương Thảo V, sinh ngày 23/01/2015, (phù hợp với nguyện vọng của cháu B và cháu V tại biên bản lấy ý kiến ngày 26/7/2023). Ghi nhận chị Đ tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: không có không yêu cầu giải quyết.
- Án phí hôn nhân và gia đình do hòa giải thành được giảm 50% là: 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) chị Trương Thị Hồng Đ đồng ý nộp toàn bộ. Số tiền án phí chị Đ phải nộp được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006446 ngày 21/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Chị Đ được nhận lại số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN (Đã ký) Hồ Thị Yến Nhi |
Quyết định số 197/2023/QÐST-HNGĐ ngày 22/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI - TỈNH BẾN TRE về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 197/2023/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trương Thị Hồng Đ và anh Lê Phong C. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 139, ngày 11/12/2007 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực. 2. Công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự: 2.1.Về con chung: Chị Trương Thị Hồng Đ có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Trương B, sinh ngày 29/3/2009 và Trương Thảo V, sinh ngày 23/01/2015, (phù hợp với nguyện vọng của cháu B và cháu V tại biên bản lấy ý kiến ngày 26/7/2023). Ghi nhận chị Đ tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con. 2.2. Về tài sản chung: không có không yêu cầu giải quyết. 2.3. Về nợ chung: không có không yêu cầu giải quyết. 2.4. Án phí hôn nhân và gia đình do hòa giải thành được giảm 50% là: 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) chị Trương Thị Hồng Đ đồng ý nộp toàn bộ. Số tiền án phí chị Đ phải nộp được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006446 ngày 21/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Chị Đ được nhận lại số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
