Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Quyết định giám đốc thẩm

Số: 194/2024/DS-GĐT

Ngày: 30/07/2024

V/v: “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ

tài sản do người chết để lại”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng;

Các Thẩm phán: ông Hoàng Thanh Dũng;

ông Võ Văn Khoa.

Thư ký phiên tòa: ông Trần Quốc Tuấn, Thẩm tra viên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Cao Minh Trí, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” giữa các đương sự:

1/Nguyên đơn.

Bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1983;

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.

2/Bị đơn:

2.1/Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1982;

2.1/Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1958;

2.3/Bà Tô Thị Đ, sinh năm 1958;

2.4/Ông Đỗ Nguyễn Hoài B, sinh năm 2002;

2.5/Bà Đỗ Nguyễn Bảo T2, sinh năm 2008;

Cùng địa chỉ: ấp Trung, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 08/11/2021 và sự trình bày trong quá trình tố tụng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ T như sau:

Vào năm 2020, ông Đỗ Hoài  (ông Â) tham gia 02 dây hụi (do bà T) làm chủ, cụ thể như sau:

-Dây hụi mở vào ngày 30/06/2020 (âm lịch-âl) gồm 20 phần với số tiền là 3.000.000 đồng/phần; dây hụi có 13 người tham gia, ông  tham gia 02 phần. Trước khi hốt hụi, ông  đóng được 05 kỳ hụi. Đến ngày 10/12/2020 (âl), ông  hốt hụi với số tiền là 102.800.000 đồng. Sau đó, ông  đóng hụi đến ngày 10/06/2021 (âl) thì ngưng không đóng nữa. Vào ngày 31/07/2021, ông  chết (vì dịch Covid-19). Như vậy, nếu còn sống, ông  còn nợ 08 kỳ hụi chưa đóng, mỗi kỳ hụi có 02 phần, tổng số tiền nợ là 48.000.000 đồng;

-Dây hụi mở vào ngày 10/10/2020 gồm 21 phần với số tiền là 5.000.000 đồng/phần; dây hụi có 13 người tham gia, ông  tham gia 02 phần; ông  đã đóng được 04 kỳ hụi. Đến ngày 20/02/2021 (âl), ông  hốt hụi với số tiền là 177.600.000 đồng. Sau đó, ông  đóng hụi đến ngày 20/06/2021 (âl) thì ngưng không đóng nữa. Như vậy, nếu còn sống, ông  còn nợ 12 kỳ hụi, mỗi kỳ hụi 02 phần, tổng số tiền nợ là 120.000.000 đồng.

Vì ông  đã chết (vào ngày 31/07/2021), nên bà T khởi kiện, đòi những người thừa kế của ông Â, gồm có: bà Nguyễn Thị Ngọc L (là người vợ của ông Â), ông Đỗ Văn T1 (là người cha của ông Â), bà Tô Thị Đ (là người mẹ của ông Â) và hai người con của ông  (là ông Đỗ Nguyễn Hoài B, bà Đỗ Nguyễn Hoài T3) phải trả số tiền nợ hụi (mà ông  phải trả, nếu còn sống) là 168.000.000 đồng và trả thêm tiền lãi, tính từ ngày khởi kiện cho đến ngày xét xử sơ thẩm, là 10.080.000 đồng.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc L (bà L), ông Đỗ Văn T1 (ông T1), bà Tô Thị Đ (bà Đ), ông Đỗ Nguyễn Hoài B (ông B), bà Đỗ Nguyễn Hoài T3 (bà T3) trình bày ý kiến như sau:

Ông  chết vào ngày 31/07/2021; các đương sự là những người thừa kế của ông  nhưng không biết gì về việc ông  có/không có, tham gia các dây hụi của bà T. Khi ông  còn sống, các đương sự không thấy bà T đến thu tiền hụi, cũng như không biết việc ông  hốt hụi/không hốt hụi.

Vì vậy, phía bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 69/2022/DS-ST ngày 26/08/2022, Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử như sau:

1.Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ T yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc L, bà Tô Thị Đ, ông Đỗ Văn T1, ông Đỗ Nguyễn Hoài B,

bà Đỗ Nguyễn Hoài T3 (người thừa kế của ông Đỗ Hoài Â) thực hiện nghĩa vụ do ông  chết để lại là trả số tiền nợ hụi và lãi tổng cộng là 178.080.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vào ngày 30/8/2022, bà T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 05/2023/DS-PT ngày 05/01/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử như sau:

-Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ T về “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” với bà Nguyễn Thị Ngọc L, bà Tô Thị Đ, ông Đỗ Văn T1, ông Đỗ Nguyễn Hoài B, bà Đỗ Nguyễn Hoài T3.

Buộc những người thừa kế của ông Đỗ Hoài  gồm: bà Nguyễn Thị Ngọc L, bà Tô Thị Đ, ông Đỗ Văn T1, ông Đỗ Nguyễn Hoài B, bà Đỗ Nguyễn Hoài T3 phải trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ T số tiền hụi còn nợ là 168.000.000 đồng và 8.366.400 đồng tiền lãi, tổng cộng 176.366.400 đồng. Những người thừa kế của ông Đỗ Hoài  có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do ông Đỗ Hoài  để lại.

Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Mỹ T đối với số tiền lãi 1.713.600 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn tuyên về án phí; quyền và nghĩa vụ thi hành bản án.

Vào ngày 21/02/2023, bà Nguyễn Thị Ngọc L, bà Tô Thị Đ, ông Đỗ Văn T1, ông Đỗ Nguyễn Hoài B, bà Đỗ Nguyễn Hoài T3 có đơn yêu cầu xem xét lại bản án phúc thẩm nói trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

Vào ngày 18/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An ra thông báo số 20/TB-VKS-DS, đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm nói trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại quyết định số 112/QĐ-VKS-DS ngày 19/04/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án phúc thẩm; đề nghị Ủy ban Thẩm phán-Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 69/2022/DS-ST ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An;

Lý do như sau:

-Những tài liệu mà bà T xuất trình tại Tòa án (giấy ghi hụi; tài liệu ghi

lại việc ông  chuyển khoản tiền cho bà T; lời khai của những người làm chứng.......) chưa đủ cơ sở để chứng minh rằng ông  đã tham gia các dây hụi do bà T làm chủ hụi, đã hốt hụi và vẫn còn nợ tiền hụi như yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban thẩm phán-Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy bản án dân sự phúc thẩm, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]Ông Đỗ Hoài  chết vào ngày 31/07/2021; những người thừa kế thuộc vào hàng thứ nhất của ông Đỗ Hoài  gồm có: bà Nguyễn Thị Ngọc L (là người vợ của ông Â), ông Đỗ Văn T1 (là người cha của ông Â), bà Tô Thị Đ (là người mẹ của ông Â) và ông Đỗ Nguyễn Hoài B, bà Đỗ Nguyễn Hoài T3 (là hai người con của ông Đỗ Hoài Â).

[2] Điều 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về việc “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” quy định như sau:

  1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.
  3. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  4. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân”.

Theo quy định của điều luật dẫn chiếu nói trên, để buộc một người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người đã chết để lại, thì phải cần và đủ hai điều kiện căn bản sau đây:

  • -Họ là người thừa kế của người đã chết;
  • -Có di sản của người đã chết, để lại.

[3]Đối chiếu quy định của pháp luật và tài liệu, chứng cứ của vụ án, thì có căn cứ kết luận rằng việc xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm là không có căn cứ pháp luật;

Lý do như sau:

[3.1]Không có bằng chứng để có thể kết luận rằng ông Đỗ Hoài Â, có/không có để lại di sản thừa kế.

[3.2]Những tài liệu mà bà Nguyễn Thị Mỹ T xuất trình tại Tòa án (để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của đương sự) không có giá trị chứng minh rằng giữa bà Nguyễn Thị Mỹ T và ông Đỗ Hoài  (khi còn sống) có giao dịch với nhau về việc hơi hụi; cụ thể như sau:

-Điều 12 (quy định về việc lập sổ hụi); Điều 13 (quy định về việc lập giấy biên nhận khi hốt hụi, đóng hụi...) của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ (về Họ; Hụi; Biêu; Phường) quy định như sau:

“Điều 12. Sổ họ:

1/Chủ họ phải lập và giữ sổ họ, trừ trường hợp có thỏa thuận về việc một thành viên lập và giữ sổ họ. Trường hợp dây họ không có chủ họ thì các thành viên thỏa thuận giao cho một thành viên lập và giữ sổ họ.

2/Sổ họ có các nội dung sau đây:

  • Các nội dung của thỏa thuận về dây họ quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị định này;
  • Ngày góp phần họ, số tiền đã góp họ của từng thành viên;
  • Ngày lĩnh họ, số tiền đã lĩnh họ của thành viên lĩnh họ;
  • Chữ ký hoặc điểm chỉ của thành viên khi góp họ và lĩnh họ;
  • Các nội dung khác liên quan đến hoạt động của dây họ”.

“Điều 13. Giấy biên nhận:

Khi góp họ, lĩnh họ, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan thì thành viên có quyền yêu cầu chủ họ hoặc người lập và giữ sổ họ cấp giấy biên nhận về việc đó”.

Xem xét tất cả những tài liệu mà bà Nguyễn Thị Mỹ T xuất trình (để lấy làm căn cứ khởi kiện) như: giấy ghi hụi (bút lục 62; 67; 70; 177); sổ phụ của ngân hàng N (bút lục 63); lời trình bày của một số người (mà bà Nguyễn Thị Mỹ T cho là cùng chơi hụi với ông Đỗ Hoài Â), đối chiếu với quy định của pháp luật về giao dịch hụi đã dẫn chiếu nói trên, thì những tài liệu mà bà

Nguyễn Thị Mỹ T xuất trình đều không có giá trị chứng minh rằng yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ T, là có căn cứ pháp luật.

[4]Như vậy, với những tài liệu, chứng cứ và diễn biến của vụ án đã phân tích nói trên, thì có căn cứ kết luận rằng việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, là đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 337; Điều 342; Điều 343; Điều 348 và Điều 349 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

1/Chấp nhận kháng nghị số 112/QĐ-VKS-DS ngày 19/04/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 05/2023/DS-PT ngày 05/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 69/2022/DS-ST ngày 26/08/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử vụ án “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mỹ T; bị đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc L, bà Tô Thị Đ, ông Đỗ Văn T1, ông Đỗ Nguyễn Hoài B, bà Đỗ Nguyễn Hoài T3.

3/Quyết định Giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Nơi nhận:

  • -Chánh án (để báo cáo);
  • -Vụ pháp chế và QLKH-TANDTC (để biết);
  • -VKSNDCC tại Tp.Hồ Chí Minh;
  • -TAND tỉnh Long An;
  • -TAND huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An;
  • -Chi Cục THADS huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An;
  • -Các đương sự (theo địa chỉ);
  • -Lưu: VT (VP, GĐKT II, THS), HSVA.

TM. ỦY BAN THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 194/2024/DS-GĐT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

  • Số quyết định: 194/2024/DS-GĐT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
  • Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng nghị số 112/QĐ-VKS-DS ngày 19/04/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 05/2023/DS-PT ngày 05/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 69/2022/DS-ST ngày 26/08/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger