TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 194/2024/HS-ST Ngày: 24-4-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Phi Hổ;
- 2. Bà Thiều Thị Phi Loan;
- - Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 178/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Thanh V (tên gọi khác: Không), sinh năm 1979 tại Đồng Nai; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 35A, tổ H, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: C, tổ C, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: Lớp 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Ngô Văn T, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1953, có vợ tên Võ Nguyễn Luyến T2, sinh năm 1980 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 01/02/1999 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Dâm ô đối với trẻ em”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023, sau đó chuyển tạm giam theo lệnh số 57 ngày 22/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B – Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Thanh V là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 15/12/2023, V mượn xe mô tô của bạn gái tên Trần Thị Bích L để đi đến khu vực quận A, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người thanh niên tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 02 gói ma túy đá (để trong 02 gói nylông) với giá 1.600.000 đồng. Sau đó, V bỏ vào túi quần Jean phía trước bên trái mà V đang mặc rồi đi về.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, V điều khiển xe mô tô đi đến nhà
người quen tại địa chỉ: Nhà không số, khu phố E, phường T, thành phố B có công việc. Khi V vừa đi đến đầu hẻm thì gặp L, lúc này do L cần sử dụng xe để đi nên V đã trả lại xe cho L. V đang đi bộ trên đường thuộc khu phố E, phường T, thành phố B thì bị lực lượng cơ quan Công an phường T kiểm tra phát hiện bắt quả tang V đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng vụ án:
- - 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng có kích thước 3 x 5cm đã được niêm phong do Ngô Thanh V khai nhận là ma túy tổng hợp dạng đá.
- - 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng có kích thước 2 x 3cm đã được niêm phong do Ngô Thanh V khai nhận là ma túy tổng hợp dạng đá.
- - 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vivo 1938 số Imei 064588049569659 màu xanh có gắn sim: 0911616951 của Ngô Thanh V.
Tại Bản kết luận giám định số 2780/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, khối lượng: 3,2892 gam.
Tại bản cáo trạng số 164/CT/VKSBH ngày 18/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Ngô Thanh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trình bày lời luận tội: Phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đồng thời nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo. Trên cơ sở đó đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Thanh V với mức án từ: 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- - Bị cáo không tranh luận gì thêm.
- Trong phần phát biểu lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo hứa sẽ cố gắng cải tạo tốt để sau này trở thành công dân tốt cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh (Hành vi phạm tội, tội danh, điều luật áp dụng):
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận: Khoảng 22 giờ 30 ngày 15/12/2023, tại trước nhà không số, tổ F, khu phố E, phường T, thành phố B. Công an phường T bắt quả tang bị
cáo có hành vi tàng trữ trái phép 3,2892 gam ma túy, loại Methamphetamine.
Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập. Nhận thấy có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Ngô Thanh V đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa đã viện dẫn và truy tố.
[3] Về hình phạt (Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội):
[3.1] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến nhiều mặt đời sống của bản thân bị cáo và của xã hội, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và cũng để răn đe, phòng ngừa chung.
[3.2] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
[3.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[3.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về phần xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định.
- - Tịch thu sung công 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vivo 1938 số Imei 064588049569659 màu xanh có gắn sim: 0911616951 của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội là phù hợp.
[5] Đối với đối tượng N (không rõ nhân thân, lai lịch) đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Ngô Thanh V. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
[8] Về quan điểm luận tội và đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Thanh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Thanh V 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định.
- - Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1938 số Imei 064588049569659 màu xanh có gắn sim: 0911616951 của bị cáo Ngô Thanh V.
(Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên
Hoà, tỉnh Đồng Nai theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy |
Quyết định số 194/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số quyết định: 194/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thanh Vân
