Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Quyết định giám đốc thẩm

Số: 193/2024/DS-GĐT

Ngày: 30/07/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

tặng-cho quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng;
Các Thẩm phán: ông Hoàng Thanh Dũng;
ông Võ Văn Khoa.

Thư ký phiên tòa: ông Trần Quốc Tuấn, Thẩm tra viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Gia Viễn, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn.

    Ông Đỗ Văn M, sinh năm 1937;

    Địa chỉ: 7 ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre.

  2. Bị đơn:

    2.1/Ông Đỗ Văn B, sinh năm 1965;

    2.1/Bà Phan Thị H, sinh năm 1965;

    Cùng địa chỉ: 117/2 ấp Giao Hòa B, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    3.1/Ông Đỗ Văn L, sinh năm 1963;

    Địa chỉ: 1 ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.

    3.2/Ông Đỗ Văn E, sinh năm 1970;

    Địa chỉ: 1 ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre.

    3.3/Ông Đỗ Văn N, sinh năm 1974;

Địa chỉ: 1 ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là ông Đỗ Văn M trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:

Thửa đất số 41, tờ bản đồ số 9, diện tích là 4.899,9m² tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre, là tài sản của ông M, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng.

Ông M có ý định chia thửa đất nói trên cho 04 người con trai, như sau: chia cho ông Đỗ Văn L (ông L), ông Đỗ Văn E (ông E), ông Đỗ Văn N (ông N), mỗi người một phần đất có chiều ngang 12,5m x chiều dài hết thửa đất; phần đất còn lại thì chia hết cho ông Đỗ Văn B (ông B).

Lợi dụng việc ông M là người cao tuổi, mắt kém, lãng tai, không biết đọc, không biết viết, nên ông B đã đưa ông M đến Ủy ban nhân dân (UBND) xã T để làm hợp đồng tặng-cho toàn bộ thửa đất số 41 cho ông B. Mặc dù đã điểm chỉ vào hợp đồng, nhưng ông M không biết nội dung và cũng không được ai đọc lại nội dung hợp đồng.

Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ), ông B đã làm thủ tục tách sổ, sang tên cho ông L 673,4m² đất, sang tên cho ông N 672,5m² đất (tương đương 10m ngang thửa đất). Sau đó, ông M yêu cầu ông B chia đất cho ông E và trả lại cho ông M 7,5m đất chiều ngang, nhưng ông B không đồng ý.

Vì vậy, ông M khởi kiện, yêu cầu như sau:

  • Hủy bỏ hợp đồng tặng-cho quyền sử dụng đất xác lập giữa ông M và ông B vào ngày 03/06/2019 (đối với thửa đất số 41) nói trên;
  • Đòi ông B phải trả cho ông M 1.818m² đất thuộc một phần thửa đất số 49 (trước đây là thửa 41), tờ bản đồ số 9, hiện nay do ông B đứng tên chủ sử dụng đất;
  • Đối với diện tích đất còn lại là 1.735,1m² thuộc thửa đất 49, ông M đồng ý cho ông B tiếp tục sử dụng.

Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện, thì ông M đồng ý trả lại cho vợ-chồng ông B-bà H số tiền san lấp đất là 509.000.000 đồng.

Ông M cũng không tranh chấp đối với hai phần đất mà ông B đã tặng-cho ông L và ông N; không tranh chấp về biên bản họp gia đình ngày 07/03/2019 và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 11/03/2019.

Bị đơn là ông Đỗ Văn B trình bày ý kiến như sau:

Vào ngày 03/06/2019, tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre, ông M lập hợp đồng tặng-cho ông B toàn bộ thửa đất số 41, tờ bản đồ số 9, diện tích 4.899,9m². Khi ký kết hợp đồng tặng-cho đất, ông M hoàn toàn minh mẫn và tự nguyện tặng-cho quyền sử dụng đất mà không kèm theo điều kiện nào khác. UBND xã T đã chứng thực hợp đồng đúng pháp luật.

Vào ngày 14/06/2019, ông B được cấp giấy CNQSDĐ. Sau đó, ông B lập hợp đồng, tặng-cho ông L và ông N, mỗi người được một phần đất có diện tích là chiều ngang 10m (giáp quốc lộ E) x chiều dài hết đất.

Sau khi tặng-cho, phần đất còn lại thuộc thửa đất số 49, tờ bản đồ số 9, có diện tích là 3.553,1m², ông B vẫn sử dụng cho đến ngày nay. Ông B cho rằng ông M mới bị lãng tai cách đây 01 năm.

Về việc san lấp đất: vào ngày 13/8/2019, ông B và ông M thuê ông Nguyễn Văn D bơm cát vào thửa đất số 49, số tiền công là 700.000.000 đồng. Ông M cho vay 500.000.000 đồng, số tiền còn lại là của ông B. Đến năm 2020, ông B thuê ông Nguyễn Văn N1 bơm cát lần thứ 2 (vào thửa đất số 49), số tiền công là 228.480.000 đồng; tổng chi phí san lấp thửa đất số 49 (trong đó có phần đất tranh chấp), là 1.212.606.000 đồng.

Đối với biên bản họp gia đình ngày 07/03/2019 và hợp đồng tặng-cho quyền sử dụng đất ngày 11/03/2019, ông B không tranh chấp.

Bị đơn là bà Phan Thị H trình bày ý kiến như sau:

Bà H là vợ của ông B, đồng ý với ý kiến của ông B.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Văn L, ông Đỗ Văn N và ông Đỗ Văn E trình bày ý kiến như sau:

Ông L, ông N và ông E cùng khẳng định rằng ông M đã bị lãng tai cách đây 20 năm. Ông M có ý định phân chia thửa đất số 41 cho 04 người con trai (là ông L, ông N, ông E và ông B), nhưng ông B đã lừa dối để ông M lập hợp đồng tặng-cho thửa đất số 41 cho riêng ông B. Vì vậy, ông L, ông N và ông E đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông M.

Đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 11/03/2019 và biên bản họp gia đình ngày 07/03/2019, ông L, ông N và ông E không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với hợp đồng tặng-cho quyền sử dụng đất giữa ông B và ông L, giữa ông B và ông N, các đương sự cũng không tranh chấp.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 27/04/2023, Tòa án

nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử như sau:

  1. Chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn M, cụ thể:
    • Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, số chứng thực 135 quyển số 01/20008 + 2019/SCT/HĐ,GD ngày 03/6/2019 tại Ủy ban nhân dân xã T, giữa ông Đỗ Văn M và ông Đỗ Văn B.
    • Buộc ông Đỗ Văn B phải có nghĩa vụ giao trả cho ông Đỗ Văn M diện tích 1.818m² thuộc một phần thửa 49, tờ bản đồ số 9 (trước đây là thửa số 41, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
    • Buộc ông Đỗ Văn M giao trả cho ông Đỗ Văn B, bà Phan Thị H chi phí san lấp là 550.000.000 đồng.
  2. Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án của Tòa án để điều chỉnh biến động hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp.

  3. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đỗ Văn M đồng ý tặng cho ông Đỗ Văn B diện tích 1.735,1m² thuộc một phần thửa 49, tờ bản đồ số 9 (trước đây là thửa số 41, tờ bản đồ số 9), tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
  4. Đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 11/3/2019 và biên bản họp gia đình ngày 07/3/2019, do các bên không tranh chấp nên không xem xét giải quyết.
  5. Do các đương sự không tranh chấp hợp đồng tặng cho đất giữa ông B với ông L đối với diện tích 673,4m² thuộc thửa 41, tờ bản đồ số 9, khi đo đạc tách thửa thuộc thửa 50, tờ bản đồ số 9 và hợp đồng tặng cho đất giữa ông B với ông N đối với diện tích 672,5m² thuộc thửa 41, tờ bản đồ số 9, khi đo đạc tách thửa thuộc thửa 51, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre, nên không xem xét giải quyết.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vào ngày 08/5/2023, ông Đỗ Văn B có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 326/2023/DS-PT ngày 10/8/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử như sau:

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đỗ Văn B, sửa bản án sơ thẩm:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn M:
    • Tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, số chứng thực 135 quyển số 01/20008 + 2019/SCT/HĐ,GD ngày 03/6/2019 tại Ủy ban nhân dân xã T,

giữa ông Đỗ Văn M và ông Đỗ Văn B vô hiệu một phần đối với diện tích 1.818m2 thuộc một phần thửa 49, tờ bản đồ số 9 (trước đây là thửa số 41, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.

  • Buộc ông Đỗ Văn B phải có nghĩa vụ giao trả cho ông Đỗ Văn M diện tích 1.818m2 thuộc một phần thửa 49, tờ bản đồ số 9 (trước đây là thửa số 41, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
  • Buộc ông Đỗ Văn M giao trả cho ông Đỗ Văn B, bà Phan Thị H chi phí san lấp là 1.000.344.000 đồng.

Về độ dài tứ cận, vị trí thửa đất có trích lục họa đồ hiện trạng sử dụng đất thửa 49, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre kèm theo.

Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào nội dung quyết định của bản án để điều chỉnh biến động hoặc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bên đương sự khi có yêu cầu.

  1. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đỗ Văn M đồng ý tặng cho ông Đỗ Văn B diện tích 1.735,1m² thuộc một phần thửa 49, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
  2. Đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 11/3/2019 và biên bản họp gia đình ngày 07/3/2019, do các bên không tranh chấp nên không xem xét giải quyết.
  3. Do các đương sự không tranh chấp hợp đồng tặng cho đất giữa ông B với ông L đối với diện tích 673,4m² thuộc thửa 41, tờ bản đồ số 9, khi đo đạc tách thửa thuộc thửa 50, tờ bản đồ số 9 và hợp đồng tặng cho đất giữa ông B với ông N đối với diện tích 672,5m² thuộc thửa 41, tờ bản đồ số 9, khi đo đạc tách thửa thuộc thửa 51, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre, nên không xem xét giải quyết.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền, nghĩa vụ thi hành án.

Vào ngày 06/9/2023, ông Đỗ Văn B có đơn yêu cầu xem xét lại bản án phúc thẩm nói trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại quyết định số 117/QĐ-VKS-DS ngày 23/04/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án phúc thẩm; đề nghị Ủy ban Thẩm phán-Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án dân sự phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc

thẩm xét xử lại;

Lý do như sau:

  • Việc xác lập, ký kết, chứng thực hợp đồng tặng-cho quyền sử dụng đất giữa ông M và ông B là đúng theo quy định của pháp luật;
  • Ông M hiểu rõ hậu quả pháp lý của việc tặng-cho quyền sử dụng đất nhưng vẫn tự nguyện điểm chỉ vào hợp đồng tặng-cho quyền sử dụng đất; đây là việc làm thể hiện ý chí, nguyện vọng của ông M;
  • Hợp đồng tặng-cho quyền sử dụng đất (giữa ông M và ông B) không kèm theo điều kiện nào cả; Tòa án cấp phúc thẩm nhận định rằng ông M đã bị nhầm lẫn khi điểm chỉ vào hợp đồng tặng-cho, là không có căn cứ pháp luật và xác định rằng hợp đồng bị vô hiệu một phần, buộc ông B trả lại 1.818m² đất cho ông M, là vi phạm Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Ông M khởi kiện, đòi ông B trả lại 1.180,9m² đất để tặng-cho lại ông E. Khi xét xử, Tòa án buộc ông B trả cho ông M 1.818m² đất (diện tích đất lớn hơn yêu cầu khởi kiện), là vượt quá yêu cầu khởi kiện của ông M.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]Hộ gia đình ông Đỗ Văn M có tài sản là thửa đất số 03, tờ bản đồ số 09, diện tích là 16.778,1m² (đất trồng cây lâu năm) tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (giấy CNQSDĐ số CO736689 ngày 01/08/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp).

Vào ngày 07/03/2019 và ngày 11/03/2019, hộ gia đình ông Đỗ Văn M (gồm có: ông Đỗ Văn M; bà Bùi Thị B1; ông Đỗ Văn E; ông Đỗ Văn N; bà Đỗ Thị T; ông Đỗ Văn K và bà Võ Thị M1) cùng ký kết biên bản họp gia đình (có sự chứng nhận của UBND xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre vào ngày 07/03/2019) và ký kết hợp đồng tặng-cho quyền sử dụng đất (có sự chứng nhận của Văn phòng C, huyện T, tỉnh Bến Tre vào ngày 11/03/2019), đồng ý tặng-cho ông Đỗ Văn M toàn bộ thửa đất số 03 nói trên.

[2]Sau khi đứng tên chủ sử dụng thửa đất số 03, tờ bản đồ số 09, ông Đỗ Văn M làm thủ tục tách thửa đất này thành nhiều thửa khác nhau, trong đó, có thửa đất số 41, tờ bản đồ số 09, diện tích là 4.898,9m² (giấy CNQSDĐ số

CR409090 ngày 27/05/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp).

Sau đó, vào ngày 03/06/2019, ông Đỗ Văn M ký kết hợp đồng, tặng-cho ông Đỗ Văn B (là một trong những người con của ông Đỗ Văn M) toàn bộ thửa đất số 41, tờ bản đồ số 09; hợp đồng này được UBND xã T, huyện T chứng thực vào ngày 03/06/2019 (số chứng thực 135). Căn cứ vào hợp đồng tặng-cho ngày 03/06/2019, ông Đỗ Văn B đã thực hiện thủ tục những thủ tục hành chính theo luật định và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy CNQSDĐ số CR473229 ngày 19/06/2019.

Sau khi được cấp giấy CNQSDĐ, ông Đỗ Văn B đã tặng-cho ông Đỗ Văn L (là người anh ruột) 673,4m² đất; tặng cho ông Đỗ Văn N (là người em ruột) 672,5m² (những người này đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy CNQSDĐ đối với phần đất được tặng-cho, cùng vào ngày 04/10/2019-lần lượt mang số CS711796; CS711797); phần đất còn lại (có diện tích là 3.553 m², nay là thửa đất số 49, tờ bản đồ số 9, ấp Đ, xã T, huyện T) do ông Đỗ Văn B đứng tên theo giấy CNQSDĐ số CS376621 ngày 06/08/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp.

[3]Khi xét xử vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều cho rằng hợp đồng tặng-cho QSDĐ xác lập vào ngày 03/06/2019 giữa ông Đỗ Văn M (bên tặng-cho) và ông Đỗ Văn B (bên nhận tặng-cho) không có hiệu lực pháp luật và buộc ông Đỗ Văn B phải trả lại cho ông Đỗ Văn M một phần đất có diện tích là 1.818m² thuộc thửa đất số 49, tờ bản đồ số 9 với lập luận như sau:

  • Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông Đỗ Văn M không đủ năng lực hành vi dân sự khi ký kết hợp đồng tặng-cho QSDĐ (cho rằng ông Đỗ Văn M là người không biết đọc, biết viết; không thể ký tên vào hợp đồng);
  • Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng việc ông Đỗ Văn M tặng-cho QSDĐ cho ông Đỗ Văn B không mang tính tự nguyện, mà do nhầm lẫn.

[4]Xét thấy việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm nói trên, đều không dựa trên chứng cứ và diễn biến khách quan của vụ án; kết quả xét xử (của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm) thuần túy dựa trên sự “Suy diễn” mà không phải là kết quả của sự suy đoán pháp định;

Lý do như sau:

  • Năng lực hành vi dân sự của ông Đỗ Văn M do cơ quan chứng nhận hợp đồng (mà ở đây là UBND xã T) chịu trách nhiệm kiểm tra và xác nhận; cho đến ngày hôm nay, không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy việc chứng thực hợp đồng ngày 03/06/2019 của UBND xã T, huyện T, là vi phạm pháp luật. Sự việc “Ông Đỗ Văn M có biết đọc, biết viết hay không?” đã được làm rõ (theo xác nhận của Công an huyện T, ông Đỗ Văn M học đến lớp 2/12; xem thêm nhận

rằng trước khi ông Đỗ Văn M ký kết hợp đồng ngày 03/06/2019, thì chính đương sự cũng đã tham gia vào nhiều giao dịch xác lập QSDĐ trước đó (vào ngày 07/03/2019 và ngày 11/03/2019, ông Đỗ Văn M đã cùng ký kết biên bản họp gia đình và ký kết hợp đồng tặng-cho quyền sử dụng đất khác); điều này thể hiện rằng ông Đỗ Văn M là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;

  • Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng ông Đỗ Văn M có ý định chia (thửa đất số 41) cho 04 người con (là ông Đỗ Văn E, ông Đỗ Văn N, ông Đỗ Văn L và ông Đỗ Văn B) nhưng sau đó lại lập hợp đồng, tặng-cho ông Đỗ Văn B toàn bộ thửa đất số 41; điều đó cho thấy rằng ông Đỗ Văn M đã nhầm lẫn khi ký kết hợp đồng tặng-cho QSDĐ. Nhận xét như vậy của Tòa án cấp phúc thẩm không dựa trên bất kỳ bằng chứng cụ thể nào, mà chỉ vì sự “Suy diễn” mà có;
  • Ngoài ra, trong các đơn khởi kiện của mình, ông Đỗ Văn M chỉ yêu cầu ông Đỗ Văn B trả lại 1.180,9m² đất (17,5m x 76,48m). Nhưng khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông Đỗ Văn B trả cho ông Đỗ Văn M 1.818m² đất, là vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự.

[5]Với những tài liệu, chứng cứ và diễn biến của vụ án đã phân tích nói trên, thì có căn cứ kết luận rằng việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều không không đúng pháp luật. Do đó, Tòa án cấp giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy bản án phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 337; Điều 342; Điều 343; Điều 348 và Điều 349 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

  1. Chấp nhận kháng nghị số 117/QĐ-VKS-DS ngày 23/04/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 326/2023/DS-PT ngày 10/08/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Đỗ Văn M; bị đơn là ông Đỗ Văn B (và 03 đương sự khác tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan)

  3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Quyết định Giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Nơi nhận:

  • -Chánh án (để báo cáo);
  • -Vụ pháp chế và QLKH-TANDTC (để biết);
  • -VKSNDCC tại Tp.Hồ Chí Minh;
  • -TAND tỉnh Bến Tre (kèm hồ sơ vụ án);
  • -TAND huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;
  • -Chi Cục THADS huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;
  • -Các đương sự (theo địa chỉ);
  • -Lưu: VT (VP, GĐKT II, THS), HSVA.

TM. ỦY BAN THẨM PHÁN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 193/2024/DS-GĐT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tặng-cho quyền sử dụng đất

  • Số quyết định: 193/2024/DS-GĐT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng-cho quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng nghị số 117/QĐ-VKS-DS ngày 23/04/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 326/2023/DS-PT ngày 10/08/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger